Mở đầu 6 Giới thiệu về lý do hình thành đề tài, các mục tiêu nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài Chương 2: Tổng quan về lý thuyết Trình bày cơ sở lý thuyết về dịch vụ, dịch vụ hành chính công, chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ hành chính công. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ. Từ đó xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách thức thực hiện và thiết kế thang đo Chương 4: Kết quả nghiên cứu sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ hành chính công tại UBND Thị trấn Diên Khánh Thực hiện các bước phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu như: Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha; Phân tích nhân tố khám phá(EFA); Phân tích hồi quy đa biến; Phân tích ANOVA các đặc điểm cá nhân đến sự hài lòng Chương 5: Kiến nghị nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ hành chính công tại UBND Thị trấn Diên Khánh.
Một số gợi ý về chính sách nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ hành chính công. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm quan trọng 2. Dịch vụ Trong cuộc sống hiện nay, các loại hình dịch vụ đã và đang phát triển rất mạnh mẽ.
Xã hội càng phát triển thì cơ cấu giá trị sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ trong giá trị tổng sản phẩm xã hội cũng thay đổi theo hướng giá trị thu nhập từ các sản phẩm dịch vụ ngày càng tăng. Dịch vụ vì thế đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đều mong muốn những sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp cho người tiêu dùng hay khách hàng phải đáp ứng tốt thị hiếu, nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Những giá trị do dịch vụ mang lại chiếm vị trí ngày càng cao trong cuộc sống.
Để nhận thức rõ về tầm quan trọng của dịch vụ, thì nắm vững các khái niệm về dịch vụ là điều rất cần thiết. Khái niệm dịch vụ Theo Philip Kotler (2006), dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Hay “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu”. 8 Theo kinh tế học thì Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ (nguồn trích dẫn wikipedia. Theo Từ điển Tiếng Việt (2004) thì Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Theo Tạ Thị Kiều An và các cộng sự (2010) Dịch vụ là những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất. Hoặc dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình.
Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo Heizer and Render (2006), dịch vụ là những hoạt động kinh tế thường tạo ra sản phẩm vô hình, chẳng hạn: dịch vụ giáo dục, y tế, tài chính, giải trí,. Tuy nhiên những năm gần đây khái niệm dịch vụ trong lĩnh vực quản lý chất lượng được thống nhất theo TCVN ISO 8402:1999. Theo đó dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp.
Như vậy có thể hiểu, dịch vụ bao gồm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, vượt qua ngoài dịch vụ cơ bản, phù hợp với giá cả, hình ảnh và uy tín có liên quan. Đặc điểm của dịch vụ Theo Tạ Thị Kiều An và các cộng sự (2010), dịch vụ có 4 đặc tính cơ bản sau: Tính vô hình: Tính vô hình của dịch vụ được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa 9 của dịch vụ. Các dịch vụ đều vô hình. Không giống như các sản phẩm vật chất khác, chúng không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua chúng.
Một người đi khám bệnh không thể nhìn thấy kết quả bệnh có chữa được hay không trước khi đến dịch vụ Y tế. Một người đi máy bay không thể biết trước được chuyến bay đó có an toàn hạ cánh đúng lịch trình và có được phục vụ chu đáo hay không? cho tới khi bước ra khỏi sân bay. Tính đồng thời và không thể chia cắt: Đặc điểm này được thể hiện ở chỗ không thể phân chia rạch ròi hai giai đoạn cung cấp và tiếp nhận. Đặc điểm này cho rằng quá trình cung cấp dịch vụ xảy ra liên tục, nghĩa là quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ tiến hành đồng thời, cùng một lúc với sự hiện diện của khách hàng trong suốt thời gian sản xuất.
Do đó, chất lượng dịch vụ sẽ rất khó đoán trước mà sẽ dựa theo phán đoán chủ quan cao và dĩ nhiên, không thể tích lũy, dự trữ dịch vụ cũng như không thể kiểm nghiệm trước. Tính mong manh, không lưu giữ được: Sản phẩm dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho được. Nếu máy bay vắng khách thì giờ đến vẫn phải cất cánh với nửa khoang ghế trống. Trong khi nhu cầu về dịch vụ thường dao động rất lớn, có những thời điểm rất đông khách (trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong năm) thì người cung ứng dịch vụ phải có nhiều phương tiện cung ứng lên gấp bội để đảm bảo phục vụ trong giờ cao điểm.
Ngược lại, khi vắng khách vẫn phải tốn các chi phí cơ bản như trả lương cho nhân viên, thuê địa điểm… Để khắc phục được vướng mắc này và cân đối cung cầu tốt hơn, có thể định giá phân biệt, hệ thống đặt chỗ trước, thuê nhân viên bán thời gian…. Đặc tính này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt, dự báo nhu cầu chính xác để xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hợp lý. Tính không đồng nhất, không ổn định: Chất lượng dịch vụ thường không xác định vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó. Cuộc phẫu thuật do một giáo sư đầu ngành thực hiện sẽ 10 có chất lượng cao hơn nhiều so với một bác sĩ ngoại khoa mới vào nghề.
Và các cuộc phẫu thuật riêng của giáo sư cũng sẽ khác nhau tuỳ theo tình trạng sức khoẻ và trạng thái tinh thần của ông ta trong lúc tiến hành ca mổ. Chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào người thực hiện, thời gian và địa điểm cung cấp. Do đó, nhà cung ứng không thể dựa vào lần kiểm tra cuối cùng nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ mà mình cung cấp. Đây là một đặc điểm quan trọng mà tổ chức cần lưu ý để nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.
Nhà cung ứng có thể khắc phục bằng cách đầu tư vào việc tuyển chọn và đào tạo, huấn luyện nhân viên; chuẩn hóa các quy trình thực hiện và theo dõi, đo lường sự thỏa mãn của khách hàng thường xuyên. Phân loại dịch vụ Hiện nay trên thế giới có nhiều cách phân loại dịch vụ, tùy theo mỗi Quốc gia, lãnh thổ khác nhau thì có cách phân loại dịch vụ khác nhau. Theo Tạ Thị Kiều An và các cộng sự (2010), dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau để phân loại dịch vụ, đó là phân loại theo mục đích, theo mức độ chuẩn hóa, theo nội dung (lĩnh vực, chức năng) và theo chủ thể dịch vụ. Phân loại theo mục đích: Dịch vụ có hai loại: dịch vụ lợi nhuận và dịch vụ phi lợi nhuận.
Phân loại theo mức độ chuẩn hóa: Dịch vụ có hai loại: dịch vụ được chuẩn hóa và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng là dịch vụ được thiết kế theo yêu cầu cụ thể của từng khách hàng. Dịch vụ được chuẩn hóa là dịch vụ được thiết kế cho số lượng cung cấp lớn và tập trung vào một số khía cạnh phục vụ nhất định. Phân loại theo nội dung (lĩnh vực, chức năng): Với cách phân loại này dịch vụ bao gồm: thứ nhất là tiếp đón khách (khu vui chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng…); Thứ hai là thông tin liên lạc (đường bộ, đường thủy, viễn thông…); Thứ ba là dịch vụ y tế, sức khỏe (bệnh viện, phòng khám…); Thứ 11 tư là dịch vụ bảo quản, bảo trì; Thứ năm là dịch vụ công cộng (môi trường, điện, nước…); Thứ sáu là dịch vụ thương mại (kho bãi, cung ứng, vật tư…); Thứ bảy là dịch vụ tài chính (tín dụng, ngân hàng); Thứ tám là dịch vụ chuyên ngành và kỹ thuật; Thứ chín là dịch vụ hành chính; Thứ mười là dịch vụ khoa học, nghiên cứu, phát triển; Dịch vụ tư vấn, giáo dục, đào tạo.
Phân loại theo chủ thể thực hiện dịch vụ: Theo Tạ Thị Kiều An và cộng sự (2010) thì có ba chủ thể thực hiện dịch vụ đó là: Chủ thể nhà nước: Thực hiện các dịch vụ công như: công an, quân sự, trường học, bệnh viện…Chủ thể là các tổ chức xã hội: cung cấp các dịch vụ xã hội như hoạt động từ thiện, nhân đạo; Chủ thể là các đơn vị kinh doanh: cung cấp các dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, ngân hàng, du lịch. Chất lượng dịch vụ Khái niệm chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau, tuy nhiên khái niệm chất lượng dịch vụ đơn thuần được hiểu là những gì mà khách hàng cảm nhận được hay đó chính là thước đo sự hài lòng của khách hàng. Khách hàng có cảm nhận và yêu cầu khác nhau nên chất lượng dịch vụ cảm nhận được cũng khác nhau.