Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Chính trị học, chuyên ngành Công tác tư tưởng (Mã số: 9310201) của nghiên cứu sinh Tô Văn Phú, thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội, năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS. Nguyễn Phú Lợi và TS. Lương Ngọc Vĩnh, mang tiêu đề: "Truyền thông phòng, chống mê tín dị đoan trong sinh hoạt tôn giáo của Phật tử ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ mê tín dị đoan (MTDĐ) là một hiện tượng xã hội tiêu cực, làm vẩn đục đời sống tâm linh, ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt tôn giáo và trật tự an toàn xã hội. Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là cái nôi của nền văn hóa người Việt, đồng thời là trung tâm Phật giáo lớn của cả nước. Do sự hòa nhập lâu đời và tiếp biến nghi lễ tín ngưỡng bản địa, Nho giáo, Đạo giáo, tại đây đã hình thành hiện tượng "Phật giáo dân gian", vô hình trung tạo mảnh đất dung dưỡng cho MTDĐ nảy sinh, đan xen vào sinh hoạt tôn giáo (SHTG) của Phật tử. Dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường và sự bùng nổ của không gian mạng trong thời đại kỹ thuật số, các hành vi lợi dụng Phật giáo để hành nghề MTDĐ trục lợi diễn biến phức tạp. Dù Đảng, Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản chấn chỉnh, công tác truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử tại khu vực ĐBSH vẫn bộc lộ nhiều bất cập, thiếu hụt các công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học chính trị và công tác tư tưởng.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận, thực trạng, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra về truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh ĐBSH; từ đó đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp tăng cường công tác này đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và chỉ ra những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu.
- Làm rõ những vấn đề lý luận, xây dựng khung lý thuyết truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử.
- Làm rõ thực trạng, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra đối với truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh ĐBSH hiện nay.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp tăng cường truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh ĐBSH đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030.
Luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Truyền thông phòng, chống MTDĐ trong sinh hoạt tôn giáo của Phật tử có điểm gì khác biệt với các hoạt động truyền thông khác?
- Tình trạng MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh ĐBSH như thế nào? Hậu quả của nó ra sao?
- Thực trạng công tác truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh ĐBSH ra sao? Kết quả, ưu điểm và hạn chế ra sao?
- Vì sao nghiên cứu truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử lại chọn các tỉnh ĐBSH?
- Truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử cần lưu ý đến vấn đề gì? Cần có giải pháp gì để tăng cường truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh ĐBSH hiện nay?
Luận án xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết thứ nhất: Trong thời gian qua, có nhiều công trình nghiên cứu về truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử nhưng rất ít hoặc chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
- Giả thuyết thứ hai: Truyền thông phòng, chống MTDĐ là một hoạt động phổ biến và quan trọng trong công tác tư tưởng của cấp ủy, chính quyền các cấp. Tuy nhiên, truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử là một hoạt động đặc biệt có những đặc điểm riêng vì gắn với sinh hoạt tôn giáo và đối tượng đặc thù là Phật tử; theo đó có chủ thể, nội dung, phương thức và đối tượng riêng.
- Giả thuyết thứ ba: Các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung đông đảo Phật tử, đặc điểm truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở khu vực này có sự khác biệt với các địa phương khác trong cả nước về nhiều mặt; những năm qua đạt kết quả tích cực nhưng còn hạn chế, yếu kém.
- Giả thuyết thứ tư: Trong thời gian tới, tình hình MTDĐ trong SHTG của Phật tử sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, yêu cầu truyền thông ngày càng cao; nếu xác lập đúng quan điểm và giải pháp sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở ĐBSH thời kỳ mới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử ở các tỉnh ĐBSH của hệ thống chính trị và Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại các tỉnh ĐBSH.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Về nội dung: Luận án tiếp cận truyền thông dưới góc độ công tác tư tưởng của khoa học chính trị, tập trung vào hoạt động truyền thông đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và các quy định của GHPGVN đến Phật tử (thực chất là hoạt động tuyên truyền chính sách, tư tưởng).
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn các tỉnh ĐBSH, trong đó khảo sát thực tế, điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu trực tiếp tại Hà Nội, Ninh Bình, Vĩnh Phúc; đồng thời kế thừa kết quả khảo sát của đồng nghiệp tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Nam Định.
- Về thời gian: Khảo sát thực tiễn công tác truyền thông từ năm 2014 (thời điểm ban hành Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo) đến đầu năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề:
Nhóm nghiên cứu về mê tín dị đoan và mê tín dị đoan trong tôn giáo:
- Học giả ngoài nước: Alexandre de Rhodes (1651) trong Phép giảng tám ngày và Histoire du royaume de Tunquin đã dùng khái niệm mê tín dị đoan dưới nhãn quan thần học Kitô giáo để nhìn nhận các tín ngưỡng dân gian và Tam giáo tại Việt Nam; Askevis Leherpeux (1988) trong La superstition phân tích mê tín như những niềm tin lỗi thời trái ngược với nhận thức khoa học đương thời; Marguerite và Marie Thiollier (1995) trong Dictionnaire des Religions nhìn nhận mê tín là tàn dư ma thuật sai lệch với ý thức tôn giáo; Đới Thần Kinh (2006) trong Sự phân rã của tín ngưỡng với mê tín làm rõ tính lịch sử và sự chuyển hóa biện chứng giữa tín ngưỡng và mê tín; Jean-Bruno Renard và Patrick Legros (2011) trong Superstitions Croyances et pratiques liées à la chance et à la malchance phân tích nguồn gốc MTDĐ từ nỗi sợ hãi và sự hạn chế nhận thức.
- Học giả trong nước: Nguyễn Đức Lữ (1992, 2007) phân định ranh giới mong manh giữa tín ngưỡng, tôn giáo và MTDĐ; Đặng Nghiêm Vạn (1996, 1998, 2003) phân tích thực trạng các hủ tục như cúng sao giải hạn, xóc quẻ, bói toán xâm nhập cửa chùa; Lê Trung Vũ (2001) khảo cứu các biểu hiện vàng mã, đồng bóng, giải hạn; Đỗ Quang Hưng (2005, 2011) chỉ rõ sự lệch chuẩn, thương mại hóa trong SHTG tại Thăng Long - Hà Nội và ĐBSH; Lê Văn Lợi (2012) phân tích hiện tượng trục lợi tâm linh; Chu Văn Tuấn (2012) định nghĩa MTDĐ dựa trên mức độ thái quá của niềm tin; Thích Thanh Từ (1994, 1998) và Thích Nhật Từ (2015) khẳng định giáo lý Phật giáo dựa trên trí tuệ và luật nhân quả, hoàn toàn bác bỏ MTDĐ.
Nhóm nghiên cứu về tuyên truyền và truyền thông:
- Quốc tế: Harold Lasswell (1948) với mô hình 5W cổ điển; Frank Dance và Carl Larson (1973, 1984); Everette E. Dennis và John C. Merrill; Richard C. Vincent (2007); Garth Jowett và Victoria O'Donnell (2012); John Martin (1971); Sheila Steinberg (2007); University of Minnesota Libraries Publishing (2016); Gregory Hahn (2017) với các mô hình truyền thông truyền tải, tương tác và giao dịch.
- Trong nước: Vũ Đình Hoè (2000), Tạ Ngọc Tấn (2001), Dương Xuân Sơn và cộng sự (2004, 2012, 2016), Lương Khắc Hiếu (2017), Lương Ngọc Vĩnh (2020, 2021), Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng (2006, 2021), Nguyễn Thị Trường Giang (2018), Bùi Thu Hương (2018), Nguyễn Thị Minh Ngọc (2014) làm rõ bản chất công tác tư tưởng, truyền thông chính sách và truyền thông tôn giáo. Các tác giả Phật giáo như Thích Thiện Tâm (2021), Thích Ngộ Trí Viên (2021), Thích Phước Đạt (2021), Thích Tâm Thành (2022), Thích Lệ Nhật (2022) phân tích vai trò của báo chí Phật giáo và truyền thông hoằng pháp trong việc định hướng Phật tử, phê phán tư tưởng sai lệch.
Nhóm nghiên cứu về truyền thông phòng, chống MTDĐ trong sinh hoạt Phật giáo:
- Các công trình của Nguyễn Đình Huề và cộng sự (1999), Trần Minh Hưởng và cộng sự (2004), Trương Thìn (2012), Nguyễn Thị Hải Yến (2012), Phạm Minh Thảo và Phạm Lan Oanh (2016), Nguyễn Tấn Đức (2018) tập trung vào công tác phổ biến pháp luật bài trừ MTDĐ.
- Các công trình chuyên biệt trong Phật giáo: Thích Thông Lạc (2011) lên án các tập tục làm lễ dâng sao giải hạn, đốt vàng mã; Hoàng Liên Tâm (2011) phân tích nguồn gốc tập tục cúng sao; Lê Tâm Đắc (2011) nghiên cứu các bài thuyết pháp chống mê tín của Trưởng lão Hòa thượng Kim Cương Tử; Lê Quang Thái (2013) khảo sát Thông bạch năm 1993 của Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN Thích Đức Nhuận về bài trừ MTDĐ; Thích Giác Toàn (2018), Thích Nữ Thanh Nghiêm (2019), Thích Minh Nghĩa (2021) phân tích vai trò chấn hưng Phật giáo, làm sáng tỏ chánh tín và bài trừ hủ tục.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về MTDĐ hoặc truyền thông tôn giáo, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hoạt động truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử tại địa bàn ĐBSH dưới lăng kính khoa học chính trị và chuyên ngành Công tác tư tưởng trong giai đoạn 2014-2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tư tưởng, truyền thông và tôn giáo; cùng các quy định của GHPGVN. Phương pháp luận chủ đạo là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Về khung lý thuyết, tác giả vận dụng hai lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và lý thuyết truyền thông: Do các nhà khoa học Học viện Báo chí và Tuyên truyền xây dựng từ những năm 1990, chỉ ra cấu trúc công tác tư tưởng (công tác lý luận, công tác tuyên truyền, công tác cổ động) và các yếu tố cấu thành (chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức, hiệu quả). Khung lý thuyết này dùng để thao tác hóa các khái niệm, phân tích chức năng truyền thông chính sách phòng, chống MTDĐ.
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Khởi xướng bởi Émile Durkheim, Max Weber và phát triển bởi Bronisław Malinowski, giúp xem xét cộng đồng Phật tử ĐBSH như một thực thể xã hội có cấu trúc, đồng thời phân tích chức năng dự phòng, ngăn chặn và điều chỉnh hành vi của hệ thống truyền thông đối với SHTG.
Luận án triển khai 4 cách tiếp cận: tiếp cận chính trị học, tiếp cận chính trị tư tưởng, tiếp cận xã hội học và tiếp cận tôn giáo học.
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thực nghiệm bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Nghiên cứu các văn kiện, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, GHPGVN, sách báo, tạp chí chuyên ngành.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Khảo sát định lượng với dung lượng mẫu 310 phiếu tại các chùa thuộc 3 tỉnh, thành phố đại diện ở ĐBSH từ tháng 3/2022 đến tháng 10/2022.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn định tính đối với 13 người gồm các chức sắc tôn giáo, tăng ni trụ trì và Phật tử tại địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê nội dung báo chí, mạng xã hội: Khảo sát 238 lượt tin, bài về MTDĐ xuất bản trong giai đoạn từ năm 2014 đến đầu năm 2023.
| Địa bàn khảo sát | Số lượng phiếu thu về | Tỷ lệ phần trăm (%) |
|---|---|---|
| Ninh Bình | 163 | 52,58% |
| Vĩnh Phúc | 78 | 25,16% |
| Hà Nội | 69 | 22,25% |
| Tổng cộng | 310 | 100,00% |
| Kênh truyền thông khảo sát | Số lượng bài viết (2014 - 2023) | Tỷ lệ phần trăm (%) |
|---|---|---|
| Báo chí, mạng xã hội ngoài Phật giáo | 192 | 80,67% |
| Báo chí, cổng thông tin Phật giáo | 46 | 19,33% |
| Tổng cộng | 238 | 100,00% |
Nguồn tư liệu, dữ liệu của luận án được bảo đảm tính xác thực từ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định xử phạt hành chính; Thông tư liên tịch 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV), văn bản hành chính giáo hội (Hiến chương GHPGVN, các Thông bạch Hội đồng Trị sự), cùng dữ liệu thực chứng từ 310 phiếu điều tra, 13 biên bản phỏng vấn sâu và 238 đơn vị bài viết truyền thông.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình liên quan đến luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 3 cụm nội dung: nghiên cứu về MTDĐ và MTDĐ trong sinh hoạt Phật giáo; nghiên cứu về tuyên truyền, truyền thông và truyền thông phòng chống MTDĐ; nghiên cứu chuyên sâu về truyền thông phòng chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử. Tác giả phân tích những đóng góp của các học giả đi trước về việc làm sáng tỏ ranh giới giữa niềm tin tôn giáo và sự mê muội; mô hình truyền thông 5W; vai trò của báo chí Phật giáo qua các thời kỳ. Từ đó, chương 1 xác định 3 vấn đề cần tiếp tục giải quyết: xây dựng khung lý thuyết truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử dưới góc độ công tác tư tưởng; khảo sát thực trạng ĐBSH giai đoạn 2014-2023; và xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về truyền thông phòng, chống mê tín dị đoan trong sinh hoạt tôn giáo của Phật tử
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ: truyền thông, tuyên truyền, MTDĐ, MTDĐ theo quan niệm Phật giáo, sinh hoạt tôn giáo và Phật tử. Luận án phân định: tuyên truyền mang tính áp đặt một chiều từ chủ thể nhằm thống nhất tư tưởng, trong khi truyền thông nhấn mạnh sự tương tác hai chiều và chia sẻ thông tin. Tác giả định nghĩa MTDĐ trong SHTG của Phật tử là hành vi tin và thực hành những điều huyền bí, ma thuật, sai lạc với giáo lý nhân quả của Phật giáo, làm biến dạng nghi lễ truyền thống và gây tổn thất kinh tế, sức khỏe xã hội. Chương này liệt kê các biểu hiện MTDĐ phổ biến như: cúng sao giải hạn, đốt vàng mã, bói toán, xem ngày giờ, cầu vong, cắt giải tiền duyên, cưới âm, dâng sao trục lợi tại chùa.
Chương 2 phân tích 4 vai trò của truyền thông: nâng cao nhận thức chánh tín, phòng ngừa và ngăn chặn hành vi MTDĐ, bảo vệ uy tín giáo hội, và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Về cơ sở chính trị và pháp lý, hoạt động này dựa trên các Nghị quyết của Đảng về tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, các Nghị định xử phạt của Chính phủ và Hiến chương, Thông tư chỉ đạo của GHPGVN. Luận án xác lập mô hình cấu trúc truyền thông phòng, chống MTDĐ gồm 5 yếu tố:
- Chủ thể: Cấp ủy, chính quyền, các cơ quan ban ngành và các cấp GHPGVN, tăng ni trụ trì.
- Đối tượng: Phật tử xuất gia, tại gia và quần chúng có tín ngưỡng Phật giáo.
- Nội dung: Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giáo lý chính pháp của Phật giáo, phê phán các hành vi lệch chuẩn.
- Phương thức, kênh truyền dẫn: Tuyên truyền miệng, thuyết giảng hoằng pháp, văn bản hành chính, báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử và mạng xã hội.
- Kết quả và phản hồi: Sự chuyển biến nhận thức, điều chỉnh hành vi của Phật tử và các tín hiệu phản hồi từ thực tiễn.
Chương 3: Truyền thông phòng, chống mê tín dị đoan trong sinh hoạt tôn giáo của Phật tử ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 phân tích đặc điểm địa bàn ĐBSH với bề dày lịch sử tiếp biến văn hóa, nơi Phật giáo hòa quyện sâu sắc vào tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu, thờ Thần, tạo nên tập quán "Phật giáo dân gian". Thực trạng cho thấy nhiều cơ sở tôn giáo bị thương mại hóa, biến tướng nghi lễ thành dịch vụ cầu tài lộc, giải hạn, đốt vàng mã quy mô lớn, gây bức xúc xã hội.
Đánh giá thực trạng truyền thông giai đoạn 2014-2023 qua dữ liệu 310 phiếu khảo sát và 238 bài báo, tác giả ghi nhận những kết quả tích cực: Hệ thống chính trị địa phương và Ban Trị sự GHPGVN các cấp đã phối hợp tuyên truyền, quán triệt Thông tư liên tịch 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV; các cơ quan báo chí (192 bài ngoài Phật giáo, 46 bài Phật giáo) đã tích cực vào cuộc vạch trần các vụ việc trục lợi tâm linh, phê phán việc đốt vàng mã tại tự viện; nhận thức của đại đa số Phật tử có chuyển biến, tình trạng tổ chức dâng sao giải hạn rầm rộ giảm dần ở nhiều nơi.
Tuy nhiên, luận án chỉ ra 3 nhóm vấn đề bất cập:
- Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương và ban quản lý di tích chưa quyết liệt, còn tư tưởng nể nang hoặc buông lỏng quản lý vì mục tiêu thu hút du khách, tăng nguồn thu công đức.
- Một bộ phận chức sắc, tăng ni trụ trì chưa gương mẫu, còn duy trì hoặc ngầm cổ xúy các nghi lễ mang màu sắc MTDĐ nhằm tăng nguồn thu cho nhà chùa; trình độ nhận thức giáo lý của một bộ phận Phật tử lớn tuổi còn hạn chế.
- Phương thức truyền thông còn chậm đổi mới, nặng tính hành chính, thiếu các sản phẩm truyền thông số tương tác; việc kiểm soát các thông tin mê tín, tà kiến truyền bá trên không gian mạng và các hội nhóm mạng xã hội còn nhiều lỗ hổng.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường truyền thông phòng, chống mê tín dị đoan trong sinh hoạt tôn giáo của Phật tử ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030
Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển của xã hội số và kinh tế thị trường, xác định 4 quan điểm chỉ đạo: bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền chính sách của chính quyền với truyền thông hoằng pháp chính tín của Giáo hội; kiên trì giáo dục, thuyết phục gắn với xử lý nghiêm minh các hành vi trục lợi; tôn trọng tự do tín ngưỡng lành mạnh đi đôi với bài trừ hủ tục.
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp:
- Nâng cao trách nhiệm của chủ thể truyền thông: Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương; nâng cao vai trò chỉ đạo của Hội đồng Trị sự và Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh ĐBSH.
- Đổi mới nội dung thông điệp truyền thông: Xây dựng thông điệp ngắn gọn, dễ hiểu, kết hợp nhuần nhuyễn giữa quy định pháp luật với giáo lý nhân quả, chánh kiến của Phật giáo; biên soạn tài liệu chuẩn hóa về nếp sống văn minh tại tự viện.
- Đa dạng hóa phương thức và kênh truyền thông: Kết hợp truyền thông truyền thống (thuyết giảng tại chùa, hệ thống loa truyền thanh cơ sở, pano cổ động) với truyền thông số (báo điện tử, mạng xã hội, video ngắn trên YouTube, Facebook, TikTok) để tiếp cận giới trẻ.
- Phát huy vai trò của đội ngũ tăng ni trụ trì và Phật tử nòng cốt: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng truyền thông cho tăng ni; xây dựng đội ngũ cư sĩ, phật tử nòng cốt làm hạt nhân tuyên truyền bài trừ hủ tục tại cộng đồng dân cư.
- Tăng cường cơ chế phối hợp, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Thiết lập quy chế phối hợp định kỳ giữa ngành Văn hóa, Công an, Ban Tôn giáo với Ban Trị sự Phật giáo; kiểm tra nghiêm ngặt việc hòm công đức, hoạt động dịch vụ tâm linh tại các di tích, xử lý nghiêm các trường hợp truyền bá MTDĐ trục lợi.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học và lý luận, luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về truyền thông phòng, chống MTDĐ trong SHTG của Phật tử tại các tỉnh ĐBSH dưới góc độ chuyên ngành Công tác tư tưởng. Luận án đã xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh, chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ, xác định cấu trúc 5 thành tố truyền thông đặc thù trong môi trường Phật giáo, và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa công tác tư tưởng của Đảng với hoạt động truyền thông của tổ chức tôn giáo.
Về mặt thực tiễn, luận án đã phác thảo bức tranh thực trạng sinh hoạt tôn giáo và công tác truyền thông tại ĐBSH giai đoạn 2014-2023 dựa trên các số liệu điều tra thực nghiệm (310 phiếu khảo sát, 13 phỏng vấn sâu, 238 bài báo khảo sát). Luận án đề xuất hệ thống quan điểm và 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng cụ thể cho các cơ quan quản lý nhà nước, ban tuyên giáo các cấp và Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhằm chấn chỉnh sinh hoạt tâm linh đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm trực tiếp bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu mới tập trung tại 3 tỉnh, thành phố đại diện (Hà Nội, Ninh Bình, Vĩnh Phúc), các địa bàn còn lại thuộc ĐBSH chủ yếu kế thừa từ nguồn dữ liệu thứ cấp.
- Giới hạn thời gian khảo sát thực tiễn tập trung trong giai đoạn từ 2014 đến đầu năm 2023.
- Cách tiếp cận trọng tâm thuộc về khoa học chính trị chuyên ngành Công tác tư tưởng, chưa đi sâu phân tích toàn diện các khía cạnh kinh tế học tâm linh hay xã hội học truyền thông mạng phức hợp.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học định lượng đồng bộ trên toàn bộ 11 tỉnh, thành phố vùng ĐBSH hoặc so sánh đối sánh với các vùng văn hóa tôn giáo khác như Nam Bộ, miền Trung.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế lan truyền và các thuật toán phát tán mê tín dị đoan trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, từ đó xây dựng các mô hình truyền thông can thiệp tự động trên không gian số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan làm công tác tư tưởng: Ban Tuyên giáo các cấp, Ban Tôn giáo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại các địa phương sử dụng trong việc hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch tuyên truyền nếp sống văn minh và thanh tra, kiểm tra hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Ban Thông tin - Truyền thông, Ban Hoằng pháp, Ban Trị sự các tỉnh, thành phố tham khảo để đổi mới nội dung thuyết giảng, định hướng thông tin báo chí Phật giáo và chấn chỉnh thanh quy tại các cơ sở tự viện.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học các ngành Chính trị học, Công tác tư tưởng, Báo chí - Truyền thông, Tôn giáo học, Văn hóa học sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần về truyền thông chính sách, công tác tôn giáo và văn hóa tâm linh.
Phần đáng tham khảo nhất của luận án là hệ thống khái niệm, mô hình cấu trúc truyền thông ở Chương 2 và bộ dữ liệu khảo sát thực tế kết hợp giải pháp thực thi tại Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Sự khác biệt căn bản giữa truyền thông và tuyên truyền trong luận án được phân định như thế nào? Trong khuôn khổ luận án, tác giả chỉ ra tuyên truyền là hình thái đặc thù của công tác tư tưởng, mang tính áp đặt ý chí một chiều từ chủ thể nhằm thống nhất tư tưởng và hành động của đối tượng trong các tình huống khẩn trương. Ngược lại, truyền thông là quá trình tương tác, trao đổi thông tin bình đẳng hai chiều giữa chủ thể và công chúng nhằm chia sẻ nhận thức, tôn trọng phản hồi để điều chỉnh hành vi. Trong phòng, chống MTDĐ tại tự viện, tuyên truyền giữ vai trò định hướng chính trị - pháp lý chủ đạo, còn truyền thông giúp tiếp nhận phản hồi và giải tỏa các vướng mắc tâm lý của Phật tử.
2. Khái niệm mê tín dị đoan trong sinh hoạt tôn giáo của Phật tử được luận án xác định ra sao? Luận án xác định MTDĐ trong SHTG của Phật tử là hành vi tin và thực hành niềm tin vào những điều huyền bí, thần thánh, ma thuật sai lạc với Phật pháp chính tín, trái ngược với giáo lý duyên khởi - nhân quả và truyền thống nghi lễ của Phật giáo; gây tác hại tiêu cực đến sức khỏe, kinh tế, đời sống xã hội và làm tổn hại đến hình ảnh, uy tín của Phật giáo.
3. Cơ cấu và quy mô mẫu khảo sát thực địa của luận án được tiến hành như thế nào? Tác giả đã thực hiện điều tra bằng bảng hỏi trên mẫu 310 phiếu tại các chùa ở 3 tỉnh, thành phố: Ninh Bình (163 phiếu, chiếm 52,58%), Vĩnh Phúc (78 phiếu, chiếm 25,16%), Hà Nội (69 phiếu, chiếm 22,25%) từ tháng 3/2022 đến tháng 10/2022. Nghiên cứu kết hợp 13 cuộc phỏng vấn sâu với chức sắc và Phật tử, cùng việc thống kê 238 lượt bài viết về MTDĐ trên báo chí, mạng xã hội từ năm 2014 đến đầu năm 2023.
4. Vì sao luận án lựa chọn địa bàn nghiên cứu là các tỉnh đồng bằng sông Hồng? ĐBSH là cái nôi văn hóa của người Việt, đồng thời là trung tâm Phật giáo lớn nhất cả nước với mật độ chùa chiền và Phật tử đông đảo. Phật giáo tại đây có lịch sử lâu đời, hòa nhập sâu sắc với tín ngưỡng dân gian bản địa tạo nên dạng thức "Phật giáo dân gian". Đây vừa là môi trường thuận lợi để hoằng dương Phật pháp, nhưng cũng là điều kiện khiến các hủ tục, MTDĐ dễ dàng nảy sinh, đan xen vào nghi lễ tôn giáo, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý tư tưởng và truyền thông định hướng.
5. Căn cứ mốc thời gian từ năm 2014 của luận án xuất phát từ sự kiện pháp lý nào? Mốc thời gian 2014 được chọn vì đây là năm ban hành Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo. Đây là văn bản pháp lý nền tảng tạo bước chuyển biến quan trọng trong công tác quản lý nhà nước và truyền thông bài trừ mê tín dị đoan tại các tự viện, di tích.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tô Văn Phú (2023) là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tiếp cận hiện tượng mê tín dị đoan trong sinh hoạt Phật giáo dưới góc độ khoa học chính trị chuyên ngành Công tác tư tưởng. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết công tác tư tưởng với dữ liệu điều tra thực chứng tại vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2014-2023, luận án đã làm rõ thực trạng, nguyên nhân của những biểu hiện lệch chuẩn trong sinh hoạt tôn giáo. Các quan điểm và hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho các cơ quan Đảng, chính quyền và Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong việc tăng cường hiệu quả truyền thông, củng cố chánh tín và giữ gìn nét đẹp văn hóa tâm linh của dân tộc.