Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tá giảm nghèo “Chương 2: Thực trạng nghèo và công tác giảm ngi trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tinh Lạng Sơn giai đoạn 2016- 2018 “Chương 3: Các giải pháp thức diy công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Hữu Ling, tỉnh Lạng Sơn. CHƯƠNGI CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO. LAL Mật số khái niệm 1-1. Quan niệm về nghèo 1.
Quan niệm của thể giới Đối nghèo là một vẫn đề được loài người quan tâm cả trong thực tiễn và lý luận. Có nhiều nghiên cứu về vin để này, dĩ nhiên cũng có nhiều quan điểm bắt đồng và gây ra những tranh cãi lớn nhưng nhìn chung đều coi đói nghèo là tỉnh trạng một nhóm người lội không có khả nang được hưởng một “cúi gỉ đó” ở mức tối thiểu cần thiết Sự khác nhau về "cái gi đó” đã được đề cập đến ở ba lý thuyết chủ yêu đó là lý thuyết của trường phái Phúc lợi, trường phái Nhu cầu cơ bản và trường phái Khả năng. Trường phái thứ nhất, trường phái phú lợi, xem một xã hội có hiện tượng đói ngho khi một hay nhiễu cá nhân trong xã hội đỗ không có được một mức phúc lợi kinh t được coi là can thiết để đảm bảo một cuộc sống. thiểu hợp lý theo tiêu chuẳn của xã hội đó.
Cách hiểu nà coi "cải gì để” là phúc lợi kinh tế của nhân, hay độ thỏa dụng cá nhân Tuy nhiên, vì độ khả dụng vốn là một khái niệm mang tính ước lệ, không thể do lường hay lượng hỏa được, nên người ta thưởng đồng nhất nó với một khái niệm khác cụ thể. hơn, đỏ là mức sống. Khi đố, ting thu nhập được xem là điều quan trong nhất để nâng cao mức sống hay độ thỏa dụng cá nhân. Theo cách hiểu này, các các chính sách giảm nghèo sé ph tập trung vào việc tăng năng suất, tạo việc lâm.
qua đô nâng cao tha nhập cho người dân để họ có thể có được mức phúc lợi kinh tế cần thiết như xã bội mong muốn Quan niệm về đối nghèo như vậy ty được coi là cần nhưng chưa đã nghèo còn. bao hầm nhiều khía cạnh ác chứ không chỉ riêng thu nhập. “Trường phái thứ hai, trường phái dựa vào nhu cầu cơ ban, coi "cái gi do” mà người nghèo thiểu là một tập hợp những hàng hóa và địch vụ được xác định cụ thể mà việc thỏa man chúng là điều kiện tiên quyết để dam bảo cl t lượngcuộc sống. cầu cơ bản đồ bao gồm lương thực thực phẩm, nước, điều kiện vệ sinh, nhà ở, quần áo sido due, y tế cơ sỡ, và giao thông công cộng.
Trong những nhu cầu cơ bản đồ, nhủ cầu vé dinh dưỡng là quan trọng nhất. Điểm khác biệt chính của trường phái này so với trường phái phúc lợi i nỗ không di vào xác định mức sống hay độ thỏa dung cá nhân, mà à một hệ thống các hàng hón cơ bản được coi là mọi cá nhân có quyễn được hưởng. Một khó khăn lớn nhất đối với quan niệm đối nghẻo theo trường phi nhu cầu cơ bản là nhu cầu cơ bản cũng thay đổi tùy theo tuổi tác, giới tính. và các đặc điểm nhân.
"khẩu khác, cũng như mức độ tham gia các hoạt động của từng cá nhân. Vì thé, trường phái thứ ba không quan tâm đến những gì thiểu để thỏa mãn độ khả dụng cá nhân hay nhủ cầu cơ bản của con người, mà chú trọng đến khả năng hay năng lực của con người. Do vậy, trường phái này còn được gọi là trường phái dựa vào năng lực, mới nổi lên từ những năm 80 với người đi tiên phong là nhà kinh tế học người Mỹ gốc An DO Amartya. Theo ông, giá trị cuộc sống của con người không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ kha dụng hay thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, ma đó là khả năng ma một con người cố được, là quyển tự do đáng ké mà họ được hướng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn.
Theo cách hiểu này, điều mà các các chính sách giảm nghèo cần làm là phải tạo điều kiện để người nghèo ö được năng lực thực hiện các chức năng cần thiết, đi tim những thứ rắt cơ bản như đủ dịnh dưỡng, có sức khỏe tt, tránh được nguy cơ tử vong lớn. đến những nhủ cầu cao hơn như được tôn trọng, được tham gia vào đời sống xã hội, có tiếng nói và quyển lợi. Như vậy, trường phái này khác cơ bản so với các trường phái trên ở chỗ nó chú trọng đến việc tạo cơ hội cho người nghèo để họ có thể phát huy năng lực theo cách mà họ tự chọn. Ngày nay, hầu hết các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thể giới [7.45], Liên Hiệp “Quốc [4,079] đều đã mở rộng khái niệm đối nghèo.
Theo đó, đối nghéo gồm những khía cạnh cơ bản như sau: Trude tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chi thích hợp về tha nhập hoặc tiêu ding hay nói cách khác khía cạnh đầu tiên của đối nghèo là đói nghéo theo thu nhập. Di kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng. thụ thiểu thốn về giáo dục và ytÉ Tiếp đến nguy co dé bị tôn thương và dễ gặp rủ ro tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh nghèo đói về thu nhập hoặc về sức khỏe. Cubi cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyển lực của người nghèo.
Với phát hiện đối ni là da chiễu, các khía cạnh đó, quan hệ chặt chế với nhau cho thấy dé giải quyết vẫn đề đói nghèo cần có một hệ thống các giải pháp hoàn chỉnh và đồng bộ, Việc chỉ ra bản chất đói nghéo sẽ là cơ sở cho các quốc gia xây dựng một chiến lược hành động phù hợp cho mình. Đặc biệt hệ thông giải pháp được xây dựng trên cơ sở phân tích bản chất đói nghẻo sẽ tác động một cách hiệu quả đa chiều đến vin để này 11.12 Quan niệm của Việt Nam Công như nhiều quốc gia trên thể giới, Việt Nam đã nhận thức được tằm quan trọng: của công tác giảm nghèo. Chính vì vậy, thồi gian qua Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động giảm nghèo cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Trong 46, việc thống nhất quan niệm đói nghèo của Việt Nam cũng được xác định là một vấn đề ein được quan tâm.
Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá phong phú. Nó được thay đối và ngày một gắn với quan niệm đói nghèo của thé giới. Trên cơ sở đó, Bộ KẾ hoạch và Đầu tr [6.1126] đề nghị thing nhất ding khái niệm nghèo đói theo nghĩa hẹp như sau: Hộ đôi là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. con cái thất học, ém đau không có tiền chữa tri, nhà ở rích nát (néu theo thu nhập thi các hộ này chỉ có thu nhập bình quân đầu người của loại hộ này quy ra gạo dưới 25 kg/tháng ở thành thị, 20 kg/tháng ở nông thôn đồng bằng và trung dụ, dưới 1Š kpthing ở nông thôn miỄn ni.
Huyện nghèo là huyện có trên 40% tổng số hộ nghẻo đói, không có hoặc có rất ít những cơ sở hạtằn thiết yếu, tinh độ đân trí theo lệ ma chữ cao 1.2 Quan niệm về chuẩn nghèo.1 Tiêu chi xúc định chuẩn nghéo trên thé gti Theo ngân hàng thé giới (WB)|7/rốI], từ những năm 80 cho đến nay chuẩn mực để xác định gianh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát trgn và các nước ở khu vục ASEAN được xác định bằng mức chỉ phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy tì cuộc sống với mức tiêu dung nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calofngiy/ngui hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tên a 370USD/ngườ/näm. * Ở An Độ: Liy tiêu chuẳn là 2250 calo/người#ngày * Bangladesh lấy tiêu chuẳn là 2100 ealo/ngườifngày * 6 Inđônêvia: Vào đầu những năm 80 lẾy mức tiêu ding nhiệt lượng là 2100ealojngười/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với nghèo. * Ở Trung Quốc: năm 1990 lay mức tiêu dùng là 2150calo/người/ngày. * Các nước công nghiệp phát triển châu âu: 2570 calo/người#ngày.
Tiêu chi xác định chuẩn nghéo ở Việt Nam Can cứ vào mức sông thực tế và trình độ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), từ năm 1993 đến nay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã 6 lẫn công bỗ tiêu chí cụ thể dé đánh giá hộ nghéo. Các tiêu chí này cũng thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia, Một số mốc thời gian áp dụng mức chuẩn. nghèo theo từng giai đoạn ở Việt Nam như sau; “Chuẩn nghéo giai đoạn 006 - 2010 được áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ- ‘TT ngày 08/1/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010, quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo [17] - Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vue nông thôn dưới 200.000đồng/người/tháng. - Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị dưới 260.000đồng/ngườitháng.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 [18] nêu rõ: - Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400,000 đồng/người/tháng. 1gingười/năm) trở xuống. - Hộ nghòo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân tir 500.000 đồng/người/tháng.000 đồng/nguïnăm) trở xuống = Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520,000 đồng'ngườiAháng. ~ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501,000 đồng đến 650000 đồng người háng, Chuẩn nghéo giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 [20] như sau: - Chuẩn nghèo: 700000 đồng/người4háng ở khu vực nông thôn và 900000 đồng'ngườitháng ở khu vực thành thị - Chuẩn cận nghèo: I.000/000 đồng/người/tháng ở khu vục nông thôn và 1.000 đồngngườiAháng ở khu vực thành thị Tom lại, đến nay quan niệm về đói nghẻo ở Việt Nam đã ngày càng phản ánh đúng bản.
chất của đối nghèo, Nếu như như cầu hỗ trợ của người nghèo vào những năm 90 của thể kỷ 20 chỉ giới hạn đến nhu cầu "ăn no, mặc ấm”, tì ngày nay, người nghèo còn có nhủ cầu được hỗ trợ về nhà , giáo dụ, y t, văn hỏa. Tid ến là nhu cả được trợ giúp để hạn chế rủi ro, quan trọng hơn là được quyển tham gia nhiễu hơn và có hiệu quả hơn vào các hoạt động của xã hội.