Chương 1. Tai nạn thương tích (TNTT) ở trẻ em 1. Khái niệm tai nạn thương tích - Tai nạn (accident): là một sự kiện xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn (ngẫu nhiên, không chủ ý) do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thương, thương tích cho cơ thể về thể chất hay tinh thần [16]. - Thương tích (injury): là tổn thương thực thể trên cơ thể con người do tác động của những năng lượng (bao gồm: cơ học, nhiệt, điện, hoá học, phóng xạ.) với những mức độ, tốc độ khác nhau làm quá sức chịu đựng của cơ thể.
Ngoài ra tai nạn thương tích còn là sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống (ví dụ: thiếu oxy trong trường hợp đuối nước; bị bóp hoặc thắt cổ gây nên ngạt thở; cóng lạnh…) [97],[139]. Hiện nay, thuật ngữ thương tích thường được dùng nhiều hơn vì tai nạn có ngữ nghĩa mơ hồ, người ta thường nghĩ đến tai nạn như là một điều xui xẻo, vận hạn, ngẫu nhiên, không thể tiên đoán và phòng tránh được. Hai khái niệm này đôi lúc rất khó phân biệt nên thường gọi là tai nạn thương tích. Khái niệm về nguyên nhân gây tai nạn thương tích - Tai nạn giao thông (TNGT): Là tai nạn xảy ra do va chạm giữa các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc địa bàn giao thông công cộng.
- Ngã (té): Là trường hợp bị ngã từ trên cao xuống hoặc ngã trên cùng một mặt bằng. Là sự kiện khiến con người phải dừng lại một cách đột ngột trên mặt đất, sàn nhà hoặc một mặt bằng thấp hơn. Định nghĩa này loại trừ các nguyên nhân: ngã do bị tấn công, bị xô đẩy, nhảy từ trên cao xuống để tự tử, ngã từ động vật, ngã từ tòa nhà đang cháy, ngã xuống nước, ngã vào máy móc… luan an 4 - Ngạt thở: Là trường hợp bị tắc nghẽn đường hô hấp (do chất lỏng, khí, dị vật) dẫn đến thiếu ô-xy, ngừng tim, biến chứng khác. cần đến sự chăm sóc y tế.
- Đuối nước, chết đuối: Là tình trạng đường thở bị ngập hoàn toàn trong môi trường nước (hồ bơi, bể chứa nước, ao, hồ, sông, suối, biển, bão lụt,…) gây nên tình trạng khó thở do tắc nghẽn. Nếu được người khác cứu sống hoặc tự thoát ra khỏi tình trạng nguy hiểm thì gọi là đuối nước; Nếu dẫn đến tử vong thì gọi là chết đuối. - Vật sắc nhọn (VSN): là trường hợp bị cắt, đâm, rách do tác động trực tiếp của những VSN như: mảnh thủy tinh vỡ, dao, kéo… - Ngộ độc: Là trường hợp hít, ăn, uống, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến sự chăm sóc của y tế hoặc tử vong. Ngộ độc còn được phân loại theo nguyên nhân như: thức ăn, thuốc chữa bệnh, thuốc gây nghiện, hóa chất bảo vệ thực vật… gây tổn thương cơ quan nội tạng hay rối loạn chức năng sinh học của cơ thể do phơi nhiễm với các hóa chất, môi trường.
Ngộ độc cấp là tiếp xúc với chất độc liều cao trong một lần và trong khoảng thời gian ngắn với những triệu chứng xuất hiện nhanh ngay sau khi phơi nhiễm như: thức ăn nhiễm bẩn, thuốc chữa bệnh, thuốc trừ sâu, hóa chất.; Ngoài ra còn có ngộ độc mãn: ngược với ngộ độc cấp như đã mô tả trên. - Bỏng: Tổn thương do tác động trực tiếp của các yếu tố vật lý (nhiệt, bức xạ, điện…) và hoá học gây ra tổn thương trên cơ thể: một hoặc nhiều lớp tế bào của da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, rắn nóng, lửa, điện, tia cực tím, phóng xạ, hoá học, khói do cháy xộc vào phổi. Da là bộ phận tổn thương đầu tiên, tiếp đến là các lớp dưới da (cân, cơ, mạch máu, thần kinh, xương) và một số cơ quan (hô hấp, tiêu hoá …). - Động vật côn trùng (ĐVCT) cắn, đốt: do ĐVCT tấn công vào người như cắn, đốt, húc, đâm phải.
- Vật tù rơi: Tổn thương do tác động của vật tù, vật nặng đè lên cơ thể luan an 5 như cành cây rơi, sập nhà, rơi dàn giáo, sập cầu, động đất làm sạt lở vùi lấp… - Điện giật: bị giật khi tiếp xúc với nguồn điện hở gây TNTT hoặc tử vong. - Chất nổ: Do tiếp xúc với các chất nổ (bom, mìn, bình gas…) gây ra TNTT. - Tự tử: Là trường hợp có chủ ý, cố ý tự gây tổn thương cho cơ thể mình. Khái niệm về hậu quả của tai nạn thương tích - Mức độ trầm trọng của nạn nhân sau TNTT: có 5 mức độ: + Nhẹ: nghỉ học, nghỉ làm việc, không thể sinh hoạt bình thường ít nhất 1 ngày.
+ Trung bình: có thời gian nằm viện từ 2 - 9 ngày. + Nặng: có nằm viện hoặc dùng thuốc điều trị trên 10 ngày. + Rất nặng: có di chứng, mất đi 1 chức năng, 1 cơ quan hay 1 phần cơ thể. + Tử vong: nạn nhân tử vong trong vòng 1 tháng kể từ ngày bị TNTT.
- Hậu quả tàn tật sau TNTT: Là mất đi chức năng của một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể về vận động, cảm giác, giác quan (nghe, nhận biết, nói…). Tàn tật có thể tạm thời (đỡ dần sau điều trị) hoặc vĩnh viễn (ảnh hưởng tới chức năng sống) ví dụ: cụt chi, sẹo bỏng co rút làm hạn chế vận động, mất khả năng (nói, nghe, nhìn, phản ứng), mất trí nhớ sau chấn thương sọ não. Phân loại tai nạn thương tích trẻ em 1. Phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới Dựa vào kết quả của một hành động có chủ ý hoặc không chủ ý gây ra [141].
- TNTT không chủ ý: xảy ra một cách vô tình, không suy nghĩ, không tính toán trước, bao gồm các nguyên nhân sau: Tai nạn giao thông (TNGT), luan an 6 ngạt, bỏng, ngộ độc, tai nạn lao động, động vật côn trùng cắn, ngã. - TNTT có chủ ý: xảy ra do bạo lực, có chủ ý của người khác hoặc tự mình gây ra cho bản thân mình, bao gồm tự tử, tự làm tổn thương, bạo lực, lạm dụng tình dục, sử dụng rượu, ma túy quá liều và TNTT liên quan đến chiến tranh, đảo chính, biểu tình, bạo động, can thiệp pháp luật. - TNTT không phân loại: một số TNTT không thể phân loại được vì không xác định được có chủ ý hay không. Phân loại theo Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD-10) Theo Phân loại quốc tế về bệnh tật ICD-10 [145] thì TNTT được xếp vào chương XIX bao gồm vết thương, ngộ độc và hậu quả từ các nguyên nhân bên ngoài, mã hóa từ S00 - T98, đề cập đến hậu quả mà chưa nói đến nguyên nhân TNTT.
Ở chương XX, nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong được mã hóa từ V01 - Y98 đã phân loại các sự cố môi trường, hoàn cảnh, nguyên nhân của TNTT và một số hậu quả khác. Chương này được thiết kế dùng kèm với mã chương khác nhằm nêu rõ bản chất của sự việc, vì vậy người ta thường kết hợp chương XIX và XX để nêu rõ bản chất của TNTT về nguyên nhân và hậu quả. Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình tai nạn thương tích trẻ em trên thế giới TNTT ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng ngày càng được quan tâm trên phạm vi toàn cầu.
Đây là một lĩnh vực đáng lo ngại cho trẻ em từ khi một tuổi, liên tục góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong chung cho trẻ em đến tuổi trưởng thành [138]. Theo TCYTTG (WHO), mỗi năm TNTT đã cướp đi hàng triệu sinh mạng trẻ em và hàng chục triệu trẻ khác phải nhập viện. Đối với trẻ còn sống, nếu có tổn thương tạm thời hay tàn tật vĩnh viễn thì nhu cầu chăm sóc, PHCN, đã ảnh hưởng nhiều đến thể chất, tinh thần của trẻ, gia đình và xã hội tương lai [139], [143]. TNTT là nguyên nhân hàng đầu, chiếm 1/3 số nhập viện, gây luan an 7 tàn phế, mất khả năng sống tiềm tàng.
Xét về kinh tế thì tài chính mất đi do TNTT rất lớn, bao gồm các chi phí cho dịch vụ cấp cứu, điều trị, PHCN và mất khả năng lao động về sau. Ngoài ra, tàn tật và tử vong do TNTT còn tác động lớn đến các thành viên trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ trẻ [70],[142]. Tại các nước Đông Nam Á hàng năm, có khoảng 1,5 triệu tử vong, 75% là không chủ ý, mô hình TNTT mỗi quốc gia có khác nhau nhưng nổi bật là TNGT, đuối nước, bỏng, ngã, ngộ độc và VSN; đối với TNTT chủ ý thì tự tử là nguyên nhân hàng đầu. TNTT chiếm đến 16% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu, là nguyên nhân hàng đầu gây nên TNTT cho dân cư trong khu vực.
Theo ước tính, cứ mỗi trường hợp tử vong do TNTT thì sẽ có 30-50 trường hợp nhập viện, 50-100 trường hợp khác đến khám, sơ cứu tại các cơ sở y tế [142]. Nghiên cứu của tác giả Qingfeng Li và cộng sự năm 2018 [124] tại Ethiopia về thương tích trẻ em đã ghi nhận chấn thương gây ra khoảng 25.000 ca tử vong ở tuổi 0-14. Nguyên nhân hàng đầu của chấn thương không chủ ý ở trẻ gây tử vong là TNGT, bỏng và chết đuối. Tỷ lệ tử vong do chấn thương từ 0-14 tuổi ở nam giới cao hơn nữ giới, trẻ em nông thôn có nguy cơ chấn thương hơn trẻ thành thị; Tỷ lệ tử vong hàng năm do chấn thương dự kiến sẽ tăng từ 10.697 người năm 2015 lên 11.279 người vào năm 2020 và 11.989 người vào năm 2030 ở trẻ em dưới 5 tuổi [124].
Tình hình TNTT trẻ em theo một số nguyên nhân Bỏng: Theo TCYTTG 2008, trên thế giới có 96.000 TE dưới 18 tuổi tử vong do bỏng, tỷ lệ tử vong tại các nước thu nhập thấp và trung bình cao gấp 11 lần so với các nước thu nhập cao, trong đó Đông Nam Á chiếm 10% số trường hợp bỏng trên thế giới. Các nghiên cứu từ bệnh viện cũng cho thấy: bỏng chiếm từ 10 - 30% trên tổng số vào viện, tỷ lệ tử vong cao từ 10 - 20%, đa số xảy ra khi đun nấu bằng bếp củi, dầu, va chạm vào vật dụng nấu ăn còn nóng, nước sôi và điện [66]. Nghiên cứu của Papp A. và cộng sự tại khoa nhi luan an 8 về bỏng ở Phần Lan năm 2008, đã phát hiện rằng bỏng nước là nguyên nhân của 42,2% trẻ em phải được đưa vào hai đơn vị điều trị bỏng nhi khoa.
Trong số trẻ em dưới 3 tuổi, 100% số ca bỏng là do nước nóng. Ở nhóm tuổi 11-16, 50% số ca bỏng là do điện và 50% số ca bỏng còn lại là do cháy và lửa.