Chương I, Điều 4, Mục 3, Luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có di tích lịch sử văn hóa, khoa học” [35, tr. Chương IV, Điều 28, Mục 1, Luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [35, tr. Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chia thành 3 loại: - Di tích quốc gia đặc biệt - Di tích quốc gia - Di tích cấp tỉnh + Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.
+ Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia. 11 + Di tích cấp tỉnh: là di tích của địa phương. Địa phương lập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Các di tích được hình thành từ hoạt động lao động sáng tạo của con người trong quá trình dựng nước và giữ nước, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể vừa phong phú vừa đa dạng về các loại hình. Trải qua thời gian những sản phẩm đó được tồn tại đến ngày nay, có những sản phẩm mang những giá trị có tính chất tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử văn hóa, khoa học nên được công nhận là di tích [35, tr. Quản lý di tích lịch sử văn hóa Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận của DSVH vật thể, do vậy nội dung của quản lý di tích lịch sử văn hóa cũng bám sát các nội dung của quản lý DSVH. Trên cơ sở khái niệm về di tích lịch sử văn hóa, có thể khái quát khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa như sau: quản lý nhà nước về DTLSVH là sự định hướng, quản lý, điều hành của Nhà nước nhằm bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử văn hóa, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực và thực sự trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Quản lý di tích lịch sử văn hóa được hiểu là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị của các di tích thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quản lý trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý nhà nước, của chính quyền sở tại, cộng đồng nơi có di tích) sử dụng nhiều biện pháp quản lý khác nhau nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng. Nội dung quản lý về di tích lịch sử văn hóa Quản lý di tích lịch sử văn hóa được hiểu là sự định hướng, tạo điều kiện của tổ chức điều hành về việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử văn hóa, làm cho giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. Nội dung của quản lý nhà nước về DSVH, được đề cập cụ thể tại Chương 5, Mục 1, Điều 54, Luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 gồm các nội dung như: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy các giá trị của di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức, quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [35, tr.
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận của DSVH vật thể, do vậy nội dung của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa cũng bám sát các nội dung của quản lý nhà nước về DSVH. Trong nội dung quản lý về di tích lịch sử văn hóa thì các nội dung: Xây dựng bộ máy quản lý về di tích lịch sử văn hóa, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di tích; Tổ chức các hoạt động bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích LSVH; Tổ chức và quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học, khảo cổ; Huy động, 13 quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích LSVH; Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm. Đây được xem là những nội dung cốt lõi trong công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử đền An Biên, trên cơ sở bám sát các nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa, để đáp ứng yêu cầu về mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử đề An Biên ở các nội dung như: Chủ thể quản lý; Tổ chức thực hiện, triển khai và ban hành các văn bản; Bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tích; Phát huy giá trị di tích; Quản lý tài chính tại di tích; Hoạt động nghiên cứu khoa học; Thanh tra, kiểm tra, thi đua khen thưởng; Sự tham gia của cộng đồng trong việc tổ chức và quản lý di tích lịch sử đền An Biên.
Các văn bản của Nhà nước về quản lý di tích lịch sử văn hóa Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 đã cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa, mở rộng phạm vi điều chỉnh của di sản văn hóa phi vật thể là một vấn đề mà đã được nhiều quốc gia đề cập tới. Luật tạo cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của tổ chức cá nhân và chủ sở hữu đối với di sản văn hóa, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở Trung ương và UBND các cấp trong việc bảo tồn di sản văn hóa. Tuy nhiên trong quá trình đưa Luật áp dụng vào thực tiễn, bên cạnh những 14 mặt tích cực cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển dẫn đến tình trạng thương mại hóa di tích.Vì vậy, năm 2009 Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa. Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ VHTT ký Quyết định phê duyệt số 1706/QĐ-BVHTT, ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách 32 di tích ưu tiên đầu tư chống xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020.
Dự án này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án cụ thể về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh ở nước ta hiện nay. Nghị định 98/2010/NĐ-CP, ngày 18/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009. Nghị định số 70/2012/NĐ-CP, ngày 18/9/2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.