Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị đặc biệt quan trọng của Việt Nam. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.328,9 km² gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Năm 2015, kinh tế thủ đô đạt mức tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 9,24% với quy mô đạt khoảng 27,6 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 3.600 USD (gấp 1,8 lần năm 2010). Đi cùng với tốc độ đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, Hà Nội phải đối mặt với nhiều áp lực môi trường nghiêm trọng như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tiếng ồn và hiện tượng đảo nhiệt đô thị. Trong bối cảnh đó, hệ thống công viên, vườn hoa, sông hồ và cây xanh nội đô đóng vai trò then chốt trong việc cân bằng sinh thái, điều hòa vi khí hậu và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Công viên Hòa Bình (thuộc địa bàn xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm – nay là quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) là công trình biểu tượng chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, khánh thành ngày 08/10/2010 sau khi Hà Nội được UNESCO trao tặng danh hiệu "Thành phố vì Hòa bình" vào năm 2000. Dự án được phê duyệt vào tháng 12/2008, khởi công xây dựng vào tháng 02/2009 với quy mô gần 20 ha. Nằm tại khu vực cửa ngõ phía Tây Bắc thủ đô và tiếp giáp nhiều khu đô thị mới cùng các trường đại học, công viên phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí và thể dục thể thao của lượng lớn cư dân. Tuy nhiên, sau gần 6 năm vận hành (tính đến năm 2016), cảnh quan và chất lượng môi trường tại công viên đã bộc lộ nhiều dấu hiệu suy thoái do sự xuống cấp của hạ tầng kỹ thuật và các hành vi thiếu ý thức từ một bộ phận người dân.

Chuyên đề thực tập tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Điều tra, đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về công tác bảo vệ môi trường tại công viên Hòa Bình.
  2. Đề xuất hệ thống các giải pháp, hoạt động cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, điều chỉnh hành vi của người dân và hoàn thiện công tác quản lý cảnh quan công viên.
  3. Vận động, kêu gọi sự tham gia của cộng đồng cư dân, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên và học sinh, sinh viên quanh khu vực vào các hoạt động gìn giữ vệ sinh và cải thiện môi trường sinh thái công viên.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức, thái độ và hành vi của người dân xung quanh khu vực công viên và khách đến công viên tham quan, đi bộ, giải trí (bao gồm học sinh, sinh viên, cư dân lân cận và các đối tượng khác).
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian tại công viên Hòa Bình và các khu dân cư tiếp giáp; thời gian thu thập dữ liệu thực địa diễn ra từ tháng 03/2016 đến tháng 04/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên các khái niệm cơ bản về khoa học môi trường và hệ thống văn bản pháp lý chuyên ngành tại Việt Nam:

  • Khung pháp lý và chính sách: Tiếp cận theo Luật Bảo vệ Môi trường 2014 (khoản 1 Điều 3 về khái niệm môi trường; khoản 8 Điều 3 về ô nhiễm môi trường; khoản 1 Điều 4 về nghĩa vụ bảo vệ môi trường của toàn xã hội); Chỉ thị 36/CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cùng các luật chuyên ngành như Luật Đa dạng Sinh học 2008, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2014 và các công ước quốc tế (CITES, Basel, Công ước bảo vệ tầng Ozon).
  • Khung khái niệm và cấu trúc môi trường: Môi trường được phân tích dưới góc độ hệ thống gồm 5 quyển (khí quyển, thạch quyển, thủy quyển, sinh quyển, trí quyển) với các đặc tính cơ bản: tính cơ cấu phức tạp, tính động, tính mở và khả năng tự tổ chức, tự điều chỉnh. Đề tài khai thác 3 nhóm chức năng cốt lõi của môi trường: không gian sống, cung cấp tài nguyên, nơi chứa đựng và đồng hóa chất thải (dựa trên sức chịu tải và khả năng đệm sinh thái), kết hợp các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước như DO, COD, BOD.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp quan sát trực tiếp: Theo dõi, ghi chép có kiểm soát các hiện tượng thực tế, sự cố môi trường và hành vi ứng xử của người dân tại khuôn viên nhằm kiểm tra chéo độ tin cậy của dữ liệu.
    • Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp: Sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc soạn sẵn để thu thập thông tin định lượng và định tính về nhận thức, thái độ, đánh giá chất lượng môi trường và hành vi thực tế của đối tượng khảo sát.
  • Quy trình chọn mẫu và nguồn dữ liệu:
    • Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất theo phương thức chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling). Mẫu khảo sát gồm $n = 40$ người tiếp cận trực tiếp tại công viên Hòa Bình và khu dân cư lân cận.
    • Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội TP. Hà Nội năm 2015, số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội), Báo cáo chỉ số EPI của Đại học Yale và Columbia. Dữ liệu sơ cấp được thu thập hoàn toàn qua điều tra thực địa tháng 3 - 4/2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường, chỉ rõ mối quan hệ hai chiều giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Môi trường vừa là đầu vào cung cấp nguyên liệu, vừa là đầu ra hấp thụ chất thải, quyết định tính bền vững lâu dài của nền kinh tế.

Về mặt thực tiễn, tác giả tổng hợp bức tranh ô nhiễm toàn cầu (suy giảm tài nguyên nước, mất rừng, biến đổi khí hậu, chất thải độc hại) và phân tích sâu hiện trạng môi trường Việt Nam:

  • Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới và Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos, Việt Nam xếp thứ 79/132 quốc gia về Chỉ số Hiệu quả Môi trường (EPI), đứng thứ 123/132 về chất lượng không khí.
  • Tỷ lệ che phủ rừng suy giảm mạnh từ 42% (trước 1945) xuống 29% (1975) và chỉ còn khoảng 19,7% với 10% rừng nguyên sinh; 124.000 ha rừng ngập mặn mất đi trong giai đoạn 2006–2011; hơn 20.000 ha rừng bị phá để làm thủy điện tính đến hết năm 2012.
  • Tình trạng tuyệt chủng sinh học (khoảng 200 loài chim và 120 loài thú bị diệt vong trong 4 thập kỷ) cùng sức ép từ hơn 100 loài ngoại lai xâm hại.
  • Ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng tại các lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai, sông Tiền và sông Hậu; chất thải chăn nuôi phát sinh trên 73 triệu tấn/năm từ đàn gia súc 37,8 triệu con và gia cầm 214 triệu con; 100% mẫu nước thải làng nghề khảo sát vượt quy chuẩn; nồng độ bụi tại khu vực khai khoáng Cẩm Phả vượt 3–4 lần tiêu chuẩn cho phép.

Đồng thời, chương 1 khẳng định vai trò cốt lõi của công viên đô thị: điều hòa vi khí hậu, lọc bụi, hấp thụ $CO_2$, giảm hiệu ứng đảo nhiệt, cung cấp không gian sinh hoạt cộng đồng. Tuy nhiên, các công viên lớn tại Hà Nội (công viên Thủ Lệ, công viên Thống Nhất, công viên Indira - Gandhi) đều đang đối mặt với tình trạng quá tải, xâm lấn kinh doanh dịch vụ, lộn xộn bãi đỗ xe và ô nhiễm nguồn nước hồ do xả thải sinh hoạt và rác thải du khách.

Chương 2: Thực trạng về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về bảo vệ môi trường tại công viên Hòa Bình

Chương 2 mô tả chi tiết cơ cấu quy hoạch công viên Hòa Bình: tổng diện tích gần 20 ha, gồm khu vui chơi thể thao giải trí (6,3 ha), hồ điều hòa (5,5 ha), quảng trường trung tâm (gần 3 ha), quảng trường phụ (gần 0,8 ha), khu điều hành dịch vụ (0,4 ha) và tượng đài Hòa Bình bằng đồng đỏ cao 3,6 m.

Tác giả chỉ rõ các vấn đề môi trường tiêu cực đang tồn tại: ô nhiễm hồ điều hòa 5,5 ha (nước đổi màu, cá chết bốc mùi hôi thối do nước thải kinh doanh và rác thải); rác thải sinh hoạt vứt bừa bãi do thiếu thùng rác; chất thải động vật nuôi (chó, mèo) phóng uế trên đường dạo và thảm cỏ; cơ sở hạ tầng xuống cấp (gạch ốp lát bồn hoa bị bong vỡ, nẹp mép cầu bị cong vênh, trần và tường hầm để xe bị ngấm nước, khu vực tượng đài bị tràn nước gây trơn trượt, công trình nhà cấp 4 diện tích 75 m² xây dựng không đúng quy hoạch); cây xanh chết khô hoặc bị bẻ cành.

Dữ liệu khảo sát xã hội học ($n = 40$) phản ánh các đặc điểm nhân khẩu học và nhận thức:

  • Cơ cấu mẫu: 42,5% nam (17 người), 57,5% nữ (23 người). Về độ tuổi: dưới 16 tuổi chiếm 15% (6 người); từ 16 đến 32 tuổi chiếm 55% (22 người); từ 33 đến 50 tuổi chiếm 22,5% (9 người); trên 50 tuổi chiếm 7,5% (3 người). Về trình độ học vấn: Tiểu học chiếm 5% (2 người); THCS chiếm 10% (4 người); THPT chiếm 20% (8 người); Trung cấp/Cao đẳng chiếm 25% (10 người); Đại học và Sau đại học chiếm 40% (16 người).
Vấn đề môi trường tại công viên Hòa Bình Số người lựa chọn ($n=40$) Tỷ lệ (%)
Không có vấn đề gì 17 42,5%
Thiếu cây xanh 17 42,5%
Ô nhiễm nước hồ 15 37,5%
Cơ sở hạ tầng xuống cấp 13 32,5%
Chất thải bừa bãi của động vật 10 25,0%
Rác thải bừa bãi 10 25,0%
Ý kiến khác (câu cá, xói mòn gốc cây, giẫm lên cỏ...) 7 17,5%

Trong nhóm 15 người nhận biết hiện tượng ô nhiễm nước hồ:

  • 93,33% (14 người) phản ánh mùi khó chịu.
  • 46,66% (7 người) thấy nhiều rác thải trên mặt hồ.
  • 40,00% (6 người) ghi nhận nhiều xác chết sinh vật.
  • 13,33% (2 người) nhận thấy nước hồ chuyển màu đen.

Về đánh giá tổng thể môi trường công viên: 57,5% (23 người) đánh giá tốt; 35,0% (14 người) đánh giá trung bình - cần cải tạo thêm; 7,5% (3 người) đánh giá kém.

Về nhận thức quy định sử dụng thảm cỏ:

  • 45,0% (18 người) cho rằng "ngồi đâu cũng được".
  • 37,5% (15 người) cho rằng "không được ngồi lên cỏ".
  • 15,0% (6 người) chọn "trên đồi cỏ" (đây là câu trả lời đúng theo quy định quản lý của công viên).
  • 7,5% (3 người) chọn "thảm cỏ ven hồ" và 7,5% chọn "trong các vườn hoa".

Về tính bức thiết của công tác bảo vệ môi trường: 57,5% (23 người) khẳng định cấp thiết; 42,5% (17 người) cho rằng không cấp thiết.

Hành vi tiêu cực người dân quan sát thấy Số người lựa chọn ($n=40$) Tỷ lệ (%)
Hái hoa, bẻ cành 23 57,5%
Đá bóng, đá cầu trên bãi cỏ 20 50,0%
Xả rác bừa bãi 19 47,5%
Đi xe đạp, xe máy vào công viên 16 40,0%
Phóng uế bừa bãi 16 40,0%
Thả rông động vật, thú nuôi 15 37,5%

Chương 3: Các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường công viên Hòa Bình

Dựa trên kết quả điều tra và khảo sát ý kiến đóng góp của người dân (thể hiện qua các bảng 3.1 đến 3.4 trong danh mục), chương 3 đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Bảo vệ và cải thiện cơ sở vật chất:

    • Sửa chữa, thay thế các tấm đá ốp lát bồn hoa, tiểu cảnh bị nứt vỡ; gia cố các thanh giằng, nẹp cầu đi bộ.
    • Khắc phục triệt để tình trạng đọng nước, tràn nước khu vực tượng đài; chống thấm dột trần và tường nhà để xe ngầm.
    • Xử lý, tháo dỡ công trình nhà cấp 4 diện tích 75 m² xây dựng sai quy hoạch tại vườn trung tâm; sửa chữa thiết bị phòng chiếu phim 4D.
    • Tăng cường chăm sóc, tưới tiêu và trồng dặm cây xanh, thay thế các cây chết khô.
  2. Hạn chế các hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường:

    • Lắp đặt hệ thống biển báo, biển cấm trực quan xung quanh khuôn viên (cấm dắt/thả rông động vật không rọ mõm, cấm đi xe cơ giới vào đường dạo, chỉ dẫn vị trí bãi cỏ được phép ngồi).
    • Bố trí thêm thùng rác chuyên dụng với khoảng cách hợp lý dọc các tuyến đường đi bộ ven hồ điều hòa nhằm chấm dứt tình trạng vứt rác bừa bãi.
    • Xây dựng công trình nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn bên trong công viên để ngăn ngừa tình trạng phóng uế bừa bãi, kết hợp cơ chế thu phí dịch vụ dựa trên mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân.
  3. Cải thiện cơ chế quản lý công viên:

    • Tăng cường lực lượng an ninh, bảo vệ tuần tra kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi phá hoại cây xanh, xả rác, câu cá trộm hoặc dắt thú nuôi gây ô nhiễm.
    • Phối hợp chặt chẽ với các trường đại học, đoàn thể và chính quyền địa phương tổ chức các đợt ra quân tình nguyện thu gom rác, tuyên truyền giáo dục môi trường cho thanh thiếu niên và học sinh lân cận.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm và đóng góp cụ thể:

  • Hệ thống hóa dữ liệu khảo sát thực địa: Cung cấp bộ số liệu định lượng chi tiết về thực trạng môi trường công viên Hòa Bình sau 6 năm khánh thành, làm rõ tỷ lệ nhận thức sai lệch của cộng đồng (chỉ có 15% người dân nắm đúng quy định vị trí được ngồi trên cỏ; 45% người dân nghĩ có thể ngồi tự do ở bất kỳ bãi cỏ nào).
  • Nhận diện chính xác nguồn ô nhiễm: Xác định nguyên nhân ô nhiễm nước hồ điều hòa 5,5 ha chủ yếu xuất phát từ xả thải của các điểm kinh doanh dịch vụ nội bộ kết hợp rác thải sinh hoạt do thiếu thùng rác ven hồ (93,33% người ghi nhận mùi hôi khó chịu).
  • Đề xuất giải pháp gắn liền với bằng chứng khảo sát: Kiến nghị xây dựng nhà vệ sinh công cộng và lắp đặt bổ sung thùng rác xuất phát trực tiếp từ nhu cầu và mức độ sẵn lòng chi trả của người sử dụng công viên (được kiểm chứng qua chuỗi bảng hỏi ở chương 3).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phương pháp lấy mẫu phi xác suất (thuận tiện) với quy mô mẫu nhỏ ($n = 40$) khiến tính đại diện cho toàn bộ cộng đồng dân cư khu vực Tây Bắc Hà Nội chưa cao; không thể tính toán sai số chọn mẫu để suy rộng bằng các mô hình thống kê suy luận.
    • Thời gian nghiên cứu ngắn (tháng 3 đến tháng 4/2016), chưa đánh giá được sự biến động về lượng khách và mức độ ô nhiễm theo các mùa trong năm hoặc các dịp lễ tết lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và áp dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng (theo độ tuổi, tần suất sử dụng công viên).
    • Nghiên cứu định lượng chuyên sâu áp dụng phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để ước lượng chính xác mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân cho công tác duy tu, bảo tồn cảnh quan và cải thiện chất lượng nước hồ.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề thực tập là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên các ngành Kinh tế Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Đô thị học tham khảo về phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát nhận thức cộng đồng và cách thức xử lý dữ liệu điều tra thực địa.
  • Ban Quản lý Công viên Hòa Bình và các đơn vị quản lý cây xanh, công viên đô thị tại Hà Nội trong việc rà soát các bất cập về hạ tầng (bố trí thùng rác, nhà vệ sinh công cộng, kiểm soát thấm dột nhà xe ngầm) và xây dựng quy chế quản lý hành vi người tham quan.

Câu hỏi thường gặp

1. Công viên Hòa Bình có quy mô diện tích và các phân khu chức năng như thế nào?

Công viên Hòa Bình có tổng diện tích gần 20 ha, gồm các khu chức năng chính: khu vui chơi thể thao giải trí (khoảng 6,3 ha), hồ điều hòa (5,5 ha), quảng trường trung tâm (gần 3 ha), quảng trường phụ (gần 0,8 ha), khu điều hành dịch vụ (khoảng 0,4 ha), bãi đỗ xe ngầm và tượng đài Hòa Bình bằng đồng đỏ cao 3,6 m đặt ở phía Nam công viên.

2. Người dân nhận thức như thế nào về quy định ngồi lên thảm cỏ tại công viên?

Kết quả khảo sát 40 người cho thấy nhận thức của người dân còn rất hạn chế: có tới 45% (18 người) cho rằng ngồi đâu cũng được, 37,5% (15 người) cho rằng không được ngồi lên cỏ, 7,5% chọn thảm cỏ ven hồ, 7,5% chọn vườn hoa. Chỉ có 15% (6 người) trả lời đúng theo quy định của công viên là chỉ được phép ngồi trên đồi cỏ.

3. Biểu hiện ô nhiễm nước hồ nào được người dân ghi nhận nhiều nhất?

Trong số 15 người nhận thấy hồ điều hòa bị ô nhiễm, biểu hiện rõ nhất là bốc mùi khó chịu (chiếm 93,33% với 14 người lựa chọn). Các biểu hiện tiếp theo gồm: rác thải trên mặt hồ (46,66% - 7 người), xác chết sinh vật (40,00% - 6 người) và nước hồ chuyển màu đen (13,33% - 2 người).

4. Những hành vi tiêu cực nào của người dân xuất hiện phổ biến nhất trong công viên?

Các hành vi tiêu cực được người dân quan sát thấy nhiều nhất lần lượt là: hái hoa, bẻ cành (57,5% - 23 người); đá bóng, đá cầu trên bãi cỏ (50% - 20 người); xả rác bừa bãi (47,5% - 19 người); đi xe đạp, xe máy vào công viên (40% - 16 người); phóng uế bừa bãi (40% - 16 người); và thả rông động vật, thú nuôi (37,5% - 15 người).

Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Đoàn Ngọc Minh đã phản ánh bức tranh thực trạng về chất lượng cảnh quan và môi trường tại công viên Hòa Bình sau 6 năm đưa vào khai thác. Bằng phương pháp quan sát và điều tra bảng hỏi trên mẫu 40 người, nghiên cứu đã chỉ ra sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng, tình trạng ô nhiễm nước hồ điều hòa cùng nhiều hành vi xâm hại cảnh quan xuất phát từ sự thiếu hiểu biết quy định của người dân. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật (thùng rác, nhà vệ sinh, chống thấm dột hầm xe), củng cố biển báo hướng dẫn và siết chặt cơ chế quản lý giám sát, tạo cơ sở thực tiễn để nâng cao chất lượng không gian xanh công cộng của thủ đô.