CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC THAY ĐỔI NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 1. Các khái niệm nghiên cứu 1. Khái niệm Nhận thức: 1. Các khái niệm về nhận thức - Theo giáo trình Tâm lý học đại cương, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, năm 2007 định nghĩa: “Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người.
Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức – phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình”. - Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, ông cho rằng, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan đi "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng trên thực tiễn". Theo quan điểm đó, nhận thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Phân loại nhận thức 1.
Nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, trong đó con người phản ánh những cái bên ngoài, những cái đang tác động trực tiếp đến giác quan của con người. Các quá trình của nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá trình là cảm giác và tri giác. - Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta. 12 - Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta.
Nhận thức lý tính: Nhận thức lý tính là việc con người muốn nhận biết và giải quyết được những vấn đề phức tạp thì phải đạt tới mức độ nhận thức cao hơn cảm tính – đó là nhận thức lý tính. Các quá trình của nhận thức lý tính: bao gồm có tư duy và tưởng tượng. - Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. - Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.
Sản phẩm của tưởng tượng là những hình ảnh, biểu tượng mới trên cơ sở của những biểu tượng đã có trước đó. Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Mức độ thấp nhất là nhận thức cảm tính, mức độ cao hơn là nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và chi phối lẫn nhau.
Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính. Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật. Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường 1. Khái niệm môi trường Theo khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
Môi trường bao gồm 4 thành phần: - Khí quyển: khí quyển là lớp khí bảo vệ bao quanh trái đất bao gồm nitrogen, oxygen, ngoài ra còn có argon, CO2, và một số loại khí khác. 13 - Thủy quyển: thủy quyển bao gồm tất cả các loại nguồn nước như: nước đại dương, sông hồ, nước đóng băng, nước ngầm. - Địa quyển: là lớp đất ở vỏ của trái đất bao gồm các khoáng chất, chất hữu cơ, vô cơ… - Sinh quyển: Bao gồm tất cả các sinh vật sống và tương tác với môi trường khí, nước và đất. Các yếu tố môi trường: Môi trường được hình thành bởi các hệ thống tương tác của các yếu tố vật lý, sinh học và văn hóa bằng nhiều cách khác nhau.
Các yếu tố này bao gồm: - Yếu tố vật lý: như không gian, địa mạo, khối nước, đất, đá, khoáng sản. Chúng có những tính chất thay đổi, là nơi cư trú của con người và có những giới hạn nhất định. - Yếu tố sinh học: như thực vật, động vật, vi sinh vật và con người. - Yếu tố văn hóa: như kinh tế, xã hội, chính trị.
Khái niệm ô nhiễm môi trường Theo khoản 8, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Các loại ô nhiễm chính đó là: - Ô nhiễm không khí: là sự nhiễm bẩn không khí bởi các khói, bụi và các khí độc hại như: khí thải từ các phương tiện giao thông, đốt nhiên liệu dầu, xăng, than đá; các khí độc hại từ nhựa, sơn; phóng xạ. - Ô nhiễm đất: là sự suy thoái của lớp đất bề mặt bởi sự sử dụng quá mức tài nguyên và sự thải bỏ các chất thải không thích hợp như: rác thải hàng ngày không được thu gom, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức, khải thác khoáng sản không bền vững… - Ô nhiễm nguồn nước: là quá trình nhiễm bẩn nguồn nước do các hoạt động của con người gây ra như: nước thải cống rãnh trực tiếp đổ vào sông, suối; nước thải công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm vi sinh 14 vật do các chất thải hữu cơ tự nhiên, bơm các chất thải không được phép vào nguồn nước 1. Khái niệm Công tác xã hội - Theo NASW – Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia, năm 1996: Công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của cá nhân - Theo Nguyễn Thị Oanh, tài liệu hội thảo năm 2004: Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ; qua đó công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. - CTXH là một nghề thực hành và là một khoa học thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển xã hội, sự cố kết xã hội và tăng quyền lực và giải phóng người dân.
Các nguyên tắc công bằng xã hội, quyền con người, tinh thần trách nhiệm chung và tôn trọng sự đa dạng là trọng tâm của nghề CTXH. Vận dụng những lý thuyết của CTXH, khoa học xã hội, khoa học nhân văn và kiến thức bản địa CTXH vận động, thu hút người dân và các tổ chức nhận diện những thách thức trong cuộc sống và tăng cường an sinh cho con người. (Lê Chí An. Định nghĩa mới về CTXH của quốc tế tháng 7/2014).
Từ các định nghĩa trên cho thấy: công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp, một ngành khoa học. Mục đích là thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ của con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu. Mục đích cao cả nhất của công tác xã hội là hướng tới con người. Khái niệm phát triển cộng đồng - Phát triển cộng đồng (Định nghĩa chính thức của Liên Hiệp Quốc, 1956) 15 Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia.
- Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (1995): “ Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bỗi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát triển”. Trên cơ sở các khái niệm có thể thấy những đặc trưng chủ yếu của phát triển cộng đồng đó là: Tạo ra những điều kiện căn bản cải thiện về kinh tế và xã hội cho cộng đồng; nhấn mạnh tầm quan trọng sự tham gia của người dân và tiến trình phát triển; sự nỗ lực của chính quyền trong việc hỗ trợ và định hướng phát triển bền vững; dựa trên nhu cầu của người dân; phát triển tính tự lực, nguồn lực từ chính người dân tại cộng đồng và nâng cao ý thức của họ; tăng cường tính bền vững và tuân thủ theo tiến trình từ thấp đến cao. Khái niệm vai trò của Nhân viên công tác xã hội Bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết : Theo Robertsons: “Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định”. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội…và tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách.
Vai trò của nhân viên công tác xã hội là những người hoạt động CTXH thực hiện các chuẩn mực, hành vi, gắn với quyền lợi và nghĩa vụ với vị thế là nhân viên CTXH của mình can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội bằng việc tham vấn, giáo dục, thương lượng, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu.nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội. 16 Vai trò của nhân viên CTXH trong việc thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường là việc nhân viên CTXH làm việc với cộng đồng hay được hiểu là tác viên cộng đồng .