CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm Công tác xã hội Theo Hiệp hội nhân viên CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011): “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền, giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống”.
[8] Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH: “Công tác xã hội là một ngành khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội của mình có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người”, là “một nghệ thuật, một khoa học, một nghề giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng”. [35] Trong đề tài nghiên cứu sử dụng khái niệm Công tác xã hội của tác giả Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”. Khái niệm nhân viên Công tác xã hội Nhân viên Công tác xã hội (social worker) được Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế - IASW định nghĩa: “Nhân viên xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; Tạo cơ hội để các đối tượng được tiếp cận được nguồn lực cần thiết; Thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”. Khái niệm nghèo Theo Tổ chức Liên hiệp quốc (2008): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”. [14] Theo từ điển bách khoa toàn thư: Nghèo được mô tả là “Sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian”.
[7] Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng chuẩn nghèo theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020. Theo đó, đưa ra các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều là tiêu chí về thu nhập và tiêu chí về thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; Đánh giá 26 chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình dựa theo mức thu nhập bình quân đầu người theo hai khu vực nông thôn và thành thị. Khái niệm phụ nữ nghèo Khái niệm phụ nữ: Theo Bách khoa toàn thư: Phụ nữ hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người. Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ em gái nhỏ hay mới lớn.
Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ “quyền phụ nữ”. [7] Nghiên cứu sử dụng khái niệm: “Phụ nữ là chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội”. Khái niệm phụ nữ nghèo: Theo tổ chức Escap, tại hội nghị chống đói nghèo năm 1993 đưa ra cách hiểu: “Phụ nữ nghèo là những người chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. [4] Khái niệm phụ nữ nghèo sử dụng trong nghiên cứu này là: “Những phụ nữ có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người và thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”.
Khái niệm phụ nữ nghèo đơn thân Phụ nữ đơn thân: Trong tác phẩm: “Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng”, 1996, của Trung tâm nghiên cứu Khoa học về gia đình và Phụ nữ, tác giả Lê Thi đề cập tới khái niệm “phụ nữ cô đơn” là “những phụ nữ có thể chưa lấy chồng hay không muốn lấy chồng, sống một mình hay sống với gia đình họ hàng. Họ có thể có con (hay con nuôi) hay không có con”. [30] 27 Trong bài viết: “Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân giữa xã hội Việt Nam hiện đại” tác giả Phạm Thị Thu, khoa Tiếng việt, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội có viết: “Phụ nữ đơn thân là phụ nữ thiếu vắng chồng hoặc có chồng nhưng không sống chung cùng chồng”. [31] Khái niệm phụ nữ đơn thân nghiên cứu sử dụng là:“Những người phụ nữ chưa lấy chồng hoặc không muốn lấy chồng, những người phụ nữ góa bụa, ly hôn, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ.
Họ có thể có con, hay có con nuôi, hoặc không có con. Họ có thể sống một mình hay sống cùng con cái, gia đình, họ hàng”. Phụ nữ nghèo đơn thân: Nói về phụ nữ nghèo đơn thân, trong luận văn thạc sĩ “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”, tác giả Vũ Thị Phương Hảo có mô tả:“Phụ nữ nghèo đơn thân là những người nghèo có học vấn thấp, nuôi con một mình, có hoặc không có việc làm ổn định, gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và sinh hoạt”. [5] Trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm phụ nữ nghèo đơn thân là: “ Những phụ nữ mang hai đặc tính: nghèo và đơn thân.
Đó là những phụ nữ không có chồng hoặc chồng chết, hoặc bỏ chồng, không sống chung với chồng, nuôi con một mình; Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”. Đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo đơn thân 1. Đặc điểm tâm lý Hiện nay, có thể thấy rằng rất nhiều những người phụ nữ đơn thân tự lập, tự chủ tài chính, có địa vị xã hội, họ là những doanh nhân thành đạt và có 28 nhiều đóng góp to lớn cho cộng đồng. Họ tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện trong xã hội, họ có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tạo điều kiện tốt nhất sự phát triển của con cái.
Những người phụ nữ đơn thân này rất tự tin, mạnh mẽ, độc lập, quyết đoán, ở họ có sự thành công nhất định cả trong công việc lẫn cuộc sống cá nhân. Dù họ chủ động lựa chọn cho mình cuộc sống đơn thân nhưng đôi khi những người phụ nữ đơn thân thành công vẫn phải đối diện với sự cô đơn. Tuy vậy, những phụ nữ đơn thân như trên không quá nhiều, họ thường sống ở những thành phố lớn, còn lại chiếm tỷ lệ thấp ở các khu vực nông thôn. Nghiên cứu này tập chung đi sâu vào tìm hiểu, khai thác đặc điểm của phần lớn những phụ nữ đơn thân thuộc hộ nghèo tại vùng nông thôn, họ là những phụ nữ còn gặp nhiều vấn đề, khó khăn trong cuộc sống.
Họ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: kiến thức về làm ăn kinh tế, nuôi dạy con cái, nghề nghiệp chủ yếu là làm nông nghiệp, thu nhập bấp bênh, phụ thuộc vào thời tiết, thiên tai. Tất cả những điều đó khiến cho phụ nữ nghèo đơn thân bị xung đột vai trò, những vai trò trách nhiệm đan xen chồng chéo không giải quyết được khiến tâm lý nặng nề, cáu gắt, lo âu.và dẫn đến khủng hoảng vai trò. Từ những đặc điểm và hoàn cảnh nêu trên một số phụ nữ nghèo đơn thân có nhận thức tốt, bản lĩnh và sự hỗ trợ, động viên của gia đình, người thân sẽ cố gắng lao động sản xuất, biết nhờ sự tương tác hỗ trợ từ chính những người phụ nữ có hoàn cảnh giống họ, vận động anh em, họ hàng thân thiết, các cơ quan, đơn vị, tổ chức xã hội để tạo điều kiện tham gia phát triển kinh tế gia đình. Đây có thể coi là động lực để họ cố gắng vươn lên thoát nghèo, chăm sóc, nuôi dạy con cái trưởng thành.
Nhưng cũng có không ít những người phụ nữ thể hiện sự buông xuôi, cam chịu, thiếu nghị lực và động lực, họ chấp nhận hoàn cảnh thực tại như một lẽ đương nhiên. Theo quan sát, 29 khi phụ nữ nghèo đơn thân tham gia vào buổi sinh hoạt do chi hội Phụ nữ xóm tổ chức định kỳ hàng tháng, họ có mặt rất đúng giờ, tuy nhiên khi được mời tham gia vào các hoạt động thảo luận của nhóm lại không mạnh dạn và rụt rè, thiếu tự ti khi nói lên chính suy nghĩ của bản thân. Tâm lý e ngại, tự ti khiến cho PNNĐT thu mình lại trước tập thể và khi tiếp xúc với người lạ. Đây vô tình trở thành rào cản đối với PNNĐT, các mối quan hệ của họ bị thu hẹp lại, việc họ được ảnh hưởng tích cực từ những người xung quanh bị hạn chế đi rất nhiều.