Tổng quan nghiên cứu

Hội chứng tự kỷ ở trẻ em đang trở thành một thách thức y tế và xã hội mang tính toàn cầu với tốc độ gia tăng nhanh chóng. Theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, tỷ lệ trẻ mắc chứng tự kỷ đã gia tăng tới 1204% qua hơn hai thập kỷ, từ những ca chẩn đoán ban đầu đạt tỷ lệ 6,6/1000 ở nhóm trẻ 8 tuổi vào năm 2007. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Ban chỉ đạo giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước hiện có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, trong đó có khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật. Trong cơ cấu tật tật ở trẻ em, khuyết tật trí tuệ chiếm 27%, khuyết tật vận động chiếm 20%, khuyết tật ngôn ngữ chiếm 19% và nhóm khuyết tật khác bao gồm phổ tự kỷ chiếm khoảng 7%, bên cạnh 12,62% trẻ đa tật và 31% trẻ khuyết tật mức độ nặng.

Mặc dù số lượng trẻ được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ ngày càng tăng cao, nhận thức của cộng đồng, nhà trường và chính các bậc cha mẹ tại Việt Nam vẫn còn nhiều rào cản và khoảng trống kiến thức. Trẻ tự kỷ thường xuyên đối mặt với sự kỳ thị, trong khi các bậc phụ huynh thiếu hụt trầm trọng các kỹ năng can thiệp trị liệu trong giai đoạn vàng từ 18 đến 36 tháng tuổi. Để giải quyết triệt để vấn đề này, sự tham gia của ngành công tác xã hội chuyên nghiệp giữ vị trí then chốt nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ và gia đình.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Phạm Thị Thu Hương tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã đi sâu nghiên cứu vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ phụ huynh chăm sóc trẻ tự kỷ. Đề tài được triển khai thực nghiệm tại Câu lạc bộ Gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội trong khung thời gian 6 tháng, từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đánh giá và hỗ trợ mạng lưới hơn 300 gia đình thành viên, đồng thời thúc đẩy việc thực thi Đề án 1215 của Chính phủ về trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người rối nhiễu tâm trí giai đoạn 2011 - 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba hệ thống lý thuyết nền tảng trong khoa học xã hội và công tác xã hội chuyên nghiệp:

Thứ nhất, Thuyết vai trò của George Herbert Mead, Jacob L. Moreno và Ralph Linton được sử dụng để phân tích các khuôn mẫu ứng xử, vị thế và kỳ vọng xã hội đối với nhân viên công tác xã hội và cha mẹ trẻ tự kỷ. Lý thuyết này phân lập rõ ràng giữa vai trò hiện (các hành động can thiệp, tư vấn, kết nối dịch vụ trực tiếp) và vai trò ẩn của người làm công tác xã hội, qua đó giúp phụ huynh chuyển hóa từ vị thế bị động, khủng hoảng tâm lý sang vị thế chủ động đồng hành trị liệu cùng con.

Thứ hai, Thuyết hệ thống của Allen Pincus và Anne Minahan (1973) đóng vai trò định hình mô hình can thiệp đa tầng. Lý thuyết chỉ ra rằng cá nhân luôn phụ thuộc vào các hệ thống môi trường xung quanh để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống. Luận văn vận dụng mô hình 4 hệ thống cốt lõi: hệ thống tác nhân thay đổi (nhân viên công tác xã hội và Câu lạc bộ), hệ thống thân chủ (phụ huynh và trẻ tự kỷ), hệ thống mục tiêu (cộng đồng, cơ sở giáo dục, nhà hoạch định chính sách) và hệ thống hành động. Đồng thời, nghiên cứu phân loại và tối ưu hóa 3 nguồn lực tài nguyên: hệ thống phi chính thức (gia đình, bạn bè), hệ thống chính thức (câu lạc bộ, hội phụ huynh) và hệ thống xã hội (bệnh viện, trường chuyên biệt, cơ quan quản lý nhà nước).

Thứ ba, Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) được vận dụng để nhận diện và phân cấp 5 tầng nhu cầu cấp thiết của trẻ tự kỷ và gia đình, từ các nhu cầu sinh lý cơ bản, an toàn, giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng đến nhu cầu tự khẳng định năng lực cá nhân.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm công cụ bao gồm: Rối loạn phổ tự kỷ theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc năm 2008 (tỷ lệ trẻ trai mắc cao gấp 4 lần trẻ gái), Chăm sóc trẻ tự kỷ, Tư vấn hỗ trợ và Nghề công tác xã hội theo chuẩn mực của Hiệp hội Cán sự Công tác xã hội Quốc tế (IFSW 2010). Khung thể chế được củng cố bởi Luật Người khuyết tật năm 2010, Chỉ thị 20-CT/TW năm 2012 của Bộ Chính trị và Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo dịch tễ học và hơn 50 công trình khoa học trong và ngoài nước. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa tại Câu lạc bộ Gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội (địa chỉ tại chung cư số 6, phố Đội Nhân, quận Ba Đình, Hà Nội).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu định tính có chủ đích với tổng dung lượng mẫu gồm 35 đối tượng khảo sát chuyên sâu:

  • 18 phụ huynh là thành viên chính thức của Câu lạc bộ có con được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ.
  • 15 trẻ tự kỷ ở các độ tuổi từ 1 đến 20 tuổi là con của các thành viên câu lạc bộ.
  • 2 cán bộ quản lý và điều hành trực tiếp các hoạt động của câu lạc bộ.

Các phương pháp phân tích chính bao gồm phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân và phương pháp quan sát tham dự. Lý do lựa chọn cách tiếp cận định tính chuyên sâu xuất phát từ tính chất đặc thù và phức tạp của hội chứng tự kỷ. Việc tương tác trực tiếp, phỏng vấn sâu và cùng tham gia vào các buổi sinh hoạt chuyên đề cho phép người nghiên cứu thấu cảm sâu sắc những tổn thương tâm lý của cha mẹ, quan sát chân thực các khiếm khuyết hành vi của trẻ và đánh giá chính xác từng mắt xích can thiệp của nhân viên công tác xã hội mà các bảng hỏi định lượng đại trà không thể phản ánh đầy đủ. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt trong thời gian 6 tháng (từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2016).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng đã mang lại nhiều phát hiện quan trọng về thực trạng khó khăn của gia đình trẻ tự kỷ cũng như các đóng góp thực tiễn của công tác xã hội:

Thứ nhất, rào cản nghiêm trọng về giao tiếp và nhận thức ở trẻ tự kỷ. Dữ liệu phỏng vấn sâu cho thấy 100% trẻ tự kỷ trong nghiên cứu gặp trở ngại lớn về ngôn ngữ và tương tác xã hội. Khi đối chiếu với công trình của tác giả Ngô Xuân Điệp, mức độ nhận thức sự vật của trẻ tự kỷ ở mức rất kém chiếm tới 46,15% (trong khi ở trẻ bình thường là 0%), mức kém chiếm 33,65% và mức rất tốt chỉ đạt 1,92% (so với 73,5% ở trẻ bình thường). Đặc biệt, về khả năng gọi tên sự vật chung, có đến 72,12% trẻ tự kỷ ở mức rất kém, trong khi tỷ lệ này ở nhóm trẻ phát triển bình thường là 0%. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh cũng chỉ ra rằng 96,6% giáo viên khẳng định phát triển kỹ năng giao tiếp là yêu cầu cấp thiết nhất đối với trẻ tự kỷ.

Thứ hai, mức độ ưu tiên tuyệt đối cho kỹ năng tự phục vụ tại gia đình. Khảo sát thực tế phản ánh nhiều trẻ từ 5 đến 6 tuổi vẫn chưa thể tự xúc ăn hoặc tự chủ vệ sinh cá nhân. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Đặng Vũ Thị Như Hòa tại Đà Nẵng, khi có tới 78% phụ huynh khẳng định hình thành kỹ năng tự phục vụ là nội dung can thiệp quan trọng hàng đầu tại gia đình để giảm bớt gánh nặng chăm sóc thường nhật.

Thứ ba, hiệu quả rõ nét từ 3 vai trò then chốt của nhân viên công tác xã hội:

  • Vai trò người xử lý dữ liệu: Nhân viên công tác xã hội đã tiến hành thu thập, phân loại và phân tích chính xác nhu cầu của 100% gia đình thân chủ, từ đó thiết lập các hồ sơ quản lý trường hợp và kế hoạch trợ giúp cá nhân hóa.
  • Vai trò người tư vấn và hỗ trợ chuyên môn: Trực tiếp tư vấn giải tỏa sang chấn tâm lý cho phụ huynh, đồng thời chuyển giao các phương pháp trị liệu khoa học như Phân tích hành vi ứng dụng (ABA) của Ivar Lovaas và Hệ thống giao tiếp qua trao đổi tranh ảnh (PECS) của Lori Frost và Andrew Bandy.
  • Vai trò người kết nối nguồn lực: Kết nối thành công hơn 300 gia đình thành viên câu lạc bộ với mạng lưới các chuyên gia giáo dục đặc biệt thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội, Bệnh viện Nhi Trung ương và các cơ sở can thiệp uy tín.

Thảo luận kết quả

Khủng hoảng trong chăm sóc trẻ tự kỷ bắt nguồn từ bản chất khiếm khuyết phát triển thần kinh. Quá trình xử lý thông tin 3 bước gồm tiếp nhận, hiểu nghĩa và phản hồi ở trẻ tự kỷ bị gián đoạn do sự liên kết kém giữa các nơ-ron não bộ. Khi cha mẹ thiếu kiến thức chuyên môn và giao tiếp theo bản năng, trẻ dễ rơi vào trạng thái hoang mang, dẫn đến các hành vi bùng nổ, chống đối hoặc thu mình cực đoan.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế về mô hình TEACCH tại Hoa Kỳ hay các nghiên cứu can thiệp sớm của Vũ Thị Bích Hạnh và Nguyễn Thị Hương Giang tại Việt Nam, kết quả luận văn khẳng định vai trò không thể thay thế của nhân viên công tác xã hội như một chiếc cầu nối liên ngành y tế - giáo dục - gia đình. Sự kết hợp giữa tư vấn tâm lý cá nhân và sinh hoạt nhóm giúp nâng cao hiệu quả can thiệp hành vi tại nhà cho phụ huynh lên hơn 35% so với việc gia đình tự tìm kiếm thông tin không chính thống.

Để tăng cường tính trực quan khoa học, các dữ liệu về sự chênh lệch nhận thức giữa trẻ tự kỷ và trẻ bình thường được cấu trúc hóa rõ nét qua các bảng phân tích đa trục 5 cấp độ (rất kém, kém, trung bình, tốt, rất tốt). Đồng thời, tiến trình can thiệp của nhân viên công tác xã hội được minh họa tường minh thông qua biểu đồ tháp nhu cầu Maslow 5 bậc và sơ đồ tương tác 4 hệ thống Pincus - Minahan, chứng minh mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ giữa hệ thống tác nhân thay đổi và hệ thống thân chủ trong môi trường sinh hoạt câu lạc bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện và phát huy tối đa vai trò của công tác xã hội trong chăm sóc trẻ tự kỷ, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Chuẩn hóa quy trình tập huấn và chuyển giao kỹ năng trị liệu can thiệp sớm: Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ phối hợp cùng đội ngũ nhân viên công tác xã hội tổ chức định kỳ 12 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về các kỹ thuật ABA, PECS và phục hồi chức năng ngôn ngữ. Mục tiêu đặt ra là đảm bảo 100% phụ huynh mới tham gia được trang bị đầy đủ kỹ năng xử lý hành vi bất thường và hỗ trợ trẻ phát triển nhận thức ngay tại gia đình trong giai đoạn 18 - 36 tháng tuổi.
  2. Xây dựng và nhân rộng mô hình lớp học gia đình và lớp tiền tiểu học hòa nhập: Nhân viên công tác xã hội giữ vai trò điều phối triển khai thí điểm 5 mô hình lớp học gia đình và chương trình tiền tiểu học hòa nhập trong giai đoạn 2016 - 2020 tại Hà Nội. Giải pháp này nhằm chuẩn bị tâm lý và kỹ năng tương tác cho trẻ trước khi vào lớp một, giúp giảm thiểu 40% áp lực tài chính cho các gia đình nghèo không có điều kiện theo học tại các trung tâm can thiệp tư thục đắt đỏ.
  3. Tăng cường huy động nguồn lực tài chính và đẩy mạnh truyền thông cộng đồng: Thiết lập mạng lưới vận động tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp và các quỹ bảo trợ trẻ em nhằm cấp học bổng trị liệu cho ít nhất 50 trẻ tự kỷ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hàng năm. Đồng thời, triển khai các chiến dịch truyền thông đa phương tiện trên báo chí và mạng xã hội nhằm nâng cao hiểu biết của xã hội, giảm thiểu 60% các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử đối với trẻ tự kỷ và gia đình.
  4. Thúc đẩy vận động chính sách và nâng cấp tư cách pháp nhân của tổ chức: Đội ngũ công tác xã hội tích cực phối hợp cùng các chuyên gia pháp lý hoàn thiện hồ sơ chuyển đổi Câu lạc bộ Gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội thành Hội Cha mẹ trẻ tự kỷ thành phố Hà Nội trong vòng 12 đến 24 tháng. Tăng cường tham vấn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực thi hiệu quả Luật Người khuyết tật năm 2010 và mở rộng thụ hưởng từ Đề án 1215 của Thủ tướng Chính phủ cho đối tượng trẻ tự kỷ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn dành cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học và Giáo dục đặc biệt: Luận văn cung cấp khung lý luận mẫu mực về việc ứng dụng Thuyết hệ thống Pincus - Minahan, Thuyết vai trò và Thuyết nhu cầu Maslow vào giải quyết vấn đề của các nhóm yếu thế trong xã hội.
  2. Nhân viên công tác xã hội lâm sàng, chuyên viên tâm lý và giáo viên can thiệp đặc biệt: Nắm bắt phương pháp thu thập dữ liệu thân chủ, kỹ năng tham vấn khủng hoảng tâm lý cho phụ huynh và quy trình áp dụng thực tế các phương pháp trị liệu tiên tiến như ABA và PECS.
  3. Ban điều hành các câu lạc bộ, tổ chức phi chính phủ (NGO) và mạng lưới bảo trợ người khuyết tật: Khai thác mô hình tổ chức, cơ chế điều phối mạng lưới hơn 300 gia đình và phương thức vận động nguồn lực xã hội của Câu lạc bộ Gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội để nhân rộng tại các tỉnh, thành phố trên toàn quốc.
  4. Cha mẹ, người chăm sóc và các gia đình có con mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ: Tiếp cận nguồn thông tin khoa học chuẩn xác, thấu hiểu quy luật phát triển tâm lý của trẻ tự kỷ, giải tỏa áp lực tinh thần và tìm kiếm các kênh kết nối trợ giúp xã hội tin cậy.

Câu hỏi thường gặp

  1. Giai đoạn vàng để can thiệp và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ là khi nào? Theo các bằng chứng y học và thực nghiệm tâm lý được tổng kết trong luận văn, giai đoạn vàng lý tưởng nhất để can thiệp cho trẻ tự kỷ là từ 18 đến 36 tháng tuổi. Việc phát hiện sớm bằng các công cụ sàng lọc như bảng kiểm M-CHAT và tiến hành trị liệu kịp thời trong độ tuổi này giúp cải thiện tới 80% khả năng hòa nhập ngôn ngữ và nhận thức của trẻ.

  2. Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò chủ chốt nào đối với gia đình trẻ tự kỷ? Nhân viên công tác xã hội thực hiện 3 vai trò nền tảng: xử lý dữ liệu để xác định chính xác nhu cầu thân chủ; tư vấn, hỗ trợ tâm lý và chuyển giao kỹ thuật dạy trẻ tại nhà cho phụ huynh; kết nối mạng lưới hơn 300 gia đình với các cơ sở y tế, trường học chuyên biệt và nguồn lực tài trợ từ xã hội.

  3. Vì sao trẻ tự kỷ gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp nhận và phát triển kỹ năng giao tiếp? Nguyên nhân cốt lõi là do sự suy giảm khả năng liên kết nơ-ron thần kinh dẫn đến rối loạn quy trình xử lý thông tin 3 bước gồm tiếp nhận, thấu hiểu và phản hồi. Nghiên cứu của tác giả Ngô Xuân Điệp chỉ ra rằng 72,12% trẻ tự kỷ gặp khó khăn nghiêm trọng khi gọi tên sự vật, đòi hỏi phải can thiệp bằng các công cụ giao tiếp thị giác chuyên biệt.

  4. Phương pháp can thiệp hành vi nào được luận văn khuyến nghị áp dụng phổ biến nhất tại gia đình? Luận văn nhấn mạnh việc ứng dụng phương pháp Phân tích hành vi ứng dụng (ABA) kết hợp với Hệ thống giao tiếp qua trao đổi tranh ảnh (PECS). Thực tiễn nghiên cứu tại câu lạc bộ chứng minh các phương pháp này giúp trẻ từng bước hình thành phản xạ tự phục vụ, giảm thiểu các hành vi kích động và chủ động bày tỏ nhu cầu sinh hoạt thường nhật.

  5. Hệ thống văn bản pháp luật nào tại Việt Nam bảo vệ quyền lợi của trẻ tự kỷ hiện nay? Trẻ tự kỷ được bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục, y tế và trợ cấp xã hội thông qua Hiến pháp năm 2013 (Điều 37, Điều 59), Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Trẻ em, Chỉ thị 20-CT/TW năm 2012 của Bộ Chính trị và Quyết định phê duyệt Đề án 1215 của Thủ tướng Chính phủ về trợ giúp người rối nhiễu tâm trí.

Kết luận

  • Khẳng định tính cấp thiết của việc can thiệp sớm và chăm sóc toàn diện cho trẻ tự kỷ trong bối cảnh tỷ lệ mắc hội chứng gia tăng mạnh mẽ tại Việt Nam với hơn 1,2 triệu trẻ khuyết tật trên cả nước.
  • Xác lập vững chắc 3 nhóm vai trò trụ cột của nhân viên công tác xã hội gồm: xử lý phân tích dữ liệu, tư vấn hỗ trợ phương pháp chăm sóc và điều phối kết nối mạng lưới nguồn lực xã hội.
  • Vận dụng sáng tạo và thành công hệ thống lý thuyết xã hội học hiện đại gồm Thuyết vai trò, Thuyết hệ thống Pincus - Minahan và Thuyết thang bậc nhu cầu Maslow vào thực tiễn can thiệp cộng đồng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao, từ đào tạo kỹ năng ABA/PECS cho phụ huynh, phát triển mô hình lớp học tiền tiểu học hòa nhập đến nâng cấp tư cách pháp nhân của câu lạc bộ.
  • Đóng góp nguồn cứ liệu khoa học và dữ liệu thực chứng chuẩn xác từ 35 đối tượng khảo sát chuyên sâu tại Câu lạc bộ Gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội, đặt nền móng cho việc chuẩn hóa nghề công tác xã hội trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt.

Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, việc hoàn thiện chính sách an sinh và nhân rộng mô hình hỗ trợ công tác xã hội tại 63 tỉnh, thành phố là đòi hỏi cấp bách. Các nhà khoa học, chuyên viên công tác xã hội và nhà hoạch định chính sách hãy tích cực khai thác những phát hiện từ luận văn này nhằm chung tay kiến tạo một môi trường sống bình đẳng, hòa nhập và nhân văn cho mọi trẻ em tự kỷ tại Việt Nam.