MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Stephan Hawking - một NKT nhưng đồng thời là một nhà khoa học, mộttấm gương thành công đã khiến cho biết bao NKT khác nhìn thấy ánh sáng và tiếp thêm động lực cho chính mình trên con đường tìm kiếm giá trị của bản thân. Ông đã từng nói: “Lời khuyên của tôi dành cho những NKT là: Hãy tập trung vào những việc mà sự khuyết tật không thể ngăn cản bạn làm tốt và đừng tiếc nuối những thứ bạn không làm được vì nó. Đừng để bị khuyết tật cả về thể chất lẫn tinh thần”.
Đây là một trong những câu nói thể hiện ý chí quật cường, tinh thần bất diệt của một NKT hướng tới những người cùng cảnh ngộ với mình. Câu nói cũng đã giúp cho biết bao những con người lành lặn và khỏe mạnh khác phải có cái nhìn đúng đắn về NKT cũng như nhìn lại chính bản thân mình. Không một quốc gia hay một dân tộc nào trên thế giới không có NKT. Nói như vậy không có nghĩa NKT là một phần không thể thiếu hay là một tế bào xấu trong xã hội.
Mà phải khẳng định rằng, NKT dù ở bất cứ dạng tật nào, do bất kỳ nguyên nhân gì, ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều là một trong những con người tạo nên xã hội. Tại Việt Nam hiện nay, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh một NKT trên hè phố, trong một số cơ quan, doanh nghiệp, trong một vài cơ sở giáo dục… Chúng ta cũng dễ dàng thấy được hình ảnh một diễn giả, một người truyền cảm hứng, một giám đốc thành đạt, một tấm gương nổi tiếng, một vận động viên thể thao nhiều thành tích cao là NKT… Với những giá trị, những đóng góp và khả năng của mình, NKT thực sự có một vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc góp phần xây dựng nên một xã hội tốt đẹp, một đất nước giàu mạnh hơn. Tuy vậy, bản thân NKT tại gặp không ít khó khăn ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau như: cơ hội việc làm, tình yêu, hôn nhân đến những vấn đề cơ bản 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như: đi lại, ăn uống, vệ sinh cá nhân… đều gặp phải không ít trở ngại. Trong đó, tiêu biểu phải kể đến vấn đề sinh kế của NKT hiện nay.
Bản thân NKT đôi khi do trở ngại từ những khiếm khuyết cơ thể mà khả năng thực hiện một số công việc bị hạn chế. Tuy nhiên, theo quy luật bù trừ, khi một con người có khiếm khuyết về bộ phận nào đó trên cơ thể thì một bộ phận, cơ quan khác lại được tăng cường. Chính điều này khi vận dụng vào vấn đề lao động việc làm được thể hiện rất rõ nét. Người khiếm thị có thể hát hay, nghe âm thanh rất tốt, người khiếm thính có đôi bàn tay vô cùng linh hoạt, vẽ tranh và thêu thùa rất đẹp… Nhưng cơ hội việc làm của họ đôi khi lại không rộng mở do nhiều yếu tố xuất phát từ ngoài khiếm khuyết của cơ thể như: cơ chế, chính sách, quan niệm xã hội… Nhu cầu sinh kế luôn thôi thúc mỗi con người cố gắng và tích cực hơn nữa để có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Đây là một nhu cầu cơ bản và hoàn toàn chính đáng đối với tất cả mọi người, giúp đảm bảo có được thu nhập, có được nghề nghiệp phù hợp với khả năng, hướng tới đáp ứng các nhu cầu khác. Hiểu được nhu cầu này của NKT, tác giả nhận thấy rằng việc tiến hành tìm hiểu về lĩnh vực hỗ trợ sinh kế cho đối tượng NKT thực sự là việc làm cần thiết và đúng đắn. Gắn với thực tiễn tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang hiện nay có 134 NKT ở các dạng tật khác nhau. Trong đó, rất ít NKT có việc làm ổn định.
Hơn nữa, số NKThiện đang trong độ tuổi lao động, có sức khỏe và nhu cầu tham gia lao động tại đây rất lớn. Đây thực sự là trăn trở của không chỉ các cán bộ địa phương, cán bộ phụ trách lao động thương binh xã hội mà còn là trăn trở của cả cộng đồng. Từ đó, tác giả đã tiến hành lựa chọn đề tài: “Hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang” là luận văn tốt nghiệp của mình. Qua đây, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng sinh kếriêng về vấn đề hỗ trợ việc làmcho NKT cũng như công tác hỗ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trợ sinh kế về việc làm cho NKT tại đây và đưa ra những giải pháp dựa trên nền tảng công tác xã hội.
Qua đề tài này, tác giả có mong muốn mang đến một cái nhìn mới về NKT trong lĩnh vực việc làm. Khẳng định vai trò quan trọng của Công tác xã hội trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thế. Hướng tới nâng cao vị thế, vai trò của NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trước hết, cần khẳng định rằng, NKT là một trong những đối tượng đã và đang nhận được sự quan tâm của các cấp, ban, ngành, đoàn thể trong xã hội.
Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo, hội thảo, tài liệu và hoạt động thực tiễn ở nhiều địa phương để chứng minh cho điều này. Tuy nhiên, đánh giá dưới góc độ khách quan sẽ nhận thấy những mặt tích cực và những điểm cần hoàn thiện hơn của các hoạt động đã được triển khai và những nghiên cứu, tìm hiểu về NKT. Trên thế giới Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về người khuyết tật năm 2002 đã chỉ ra rằng NKT chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của người khuyết tật đã phần gặp khó khăn về kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho NKT qua hệ thống pháp luật - Tổ chức lao động quốc tế ILO - 2006 và trẻ em tàn tật và quyền của các trẻ em, Vũ Ngọc Bình cũng đã chỉ ra: Trên thế giới hiện nay có hơn 600 triệu người có khiếm khuyết về mặt thể chất, cảm giác, trí tuệ hoặc tâm thần dưới các hình thức khác nhau.
Con số này tương đương với khoảng 10% dân số thế giới. Quốc gia nào cũng có người khuyết tật và hơn 2/3 trong số đó sống tại các nước phát triển. Hàng năm sẽ có thêm khoảng 10 triệu người khuyết tật, tính trung bình một ngày trên thế giới tăng khoảng 25.000 người (2,5 vạn người) khuyết tật, trong đó có khoảng 2. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo của cố vấn quốc hội Mỹ về người khuyết tật năm 2013 cho rằng người khuyết tật ở Mỹ chiếm khoảng 15% dân số nước Mỹ, bên cạnh những chính sách trợ giúp của nhà nước cho người khuyết tật về chăm sóc sức khỏe, tạo việc làm họ cũng gặp nhiều rào cản tiếp cận các dịch vụ xã hội như: vui chơi, giải trí, việc làm, giao thông… Năm 2011, trong một báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN) và tổ chức lao động quốc tế ILO cũng đã chỉ rõ rằng có khoẳng 75% dân số thế giới (chiếm khoảng 5 tỷ người) không được hưởng các chế độ an sinh xã hội phù hợp.
Trợ lý Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đồng thời là tổng giám đốc cơ quan Liên Hợp Quốc phụ trách các vấn đề về phụ nữ - bà Michelle Buchelet cho biết: Trong suốt tập kỷ qua, nền kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh mẽ và tổng sản phẩm quốc nội của thế giới cũng tăng gấp 10 lần nhưng việc tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân vẫn còn hạn chế. Bởi vậy bà Michelle Buchelet cho rằng: “Đảm bảo an sinh xã hội là thách thức cho tất cả các quốc gia. Mỗi quốc gia cần thi hành các chính sách việc làm cho phụ nữ và thanh niên”. Báo cáo của UN và ILO cho thấy, có khoảng 38% dân số thế giới (tương đương khoảng 2,6 tỷ người) không được hưởng các hệ thống chăm sóc sức khỏe thỏa đáng 884 triệu người không được dùng nước sạch.
Thêm vào đó có khoảng 1,4 tỷ người vẫn phải sống ở mức dưới 1,25 USD/ngày. Báo cáo cũng đề xuất các nguồn trợ cấp xã hội cộng đồng dành cho những gia đình nghèo, trong đó bao gồm trợ cấp cho những người già cả, người khuyết tật và khoản trợ cấp dành cho trẻ em và những người thất nghiệp. Bên cạnh đó chăm sóc y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh dịch tế cũng nên được đảm bảo cho tất cả mọi người. Như vậy, có thể thấy rằng, nhóm đối tượng NKT chiếm số lượng không nhỏ trên tổng số dân của toàn thế giới Và những khó khăn mà nhóm đối tượng này gặp phải đòi hỏi sự chung tay giúp sức của toàn thể cộng đồng, đặc biệt là về lĩnh vực việc làm.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tại Việt Nam 2. Các báo cáo, nghiên cứu về chính sách với NKT Ngày 12/10/2015, Ủy ban các vấn đề xã hội đã báo cáo trước Quốc hội khóa XIII “Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về NKT”. Bản báo cáo đã trình bày rõ ràng các nội dung và kết quả của hoạt động giám sát chính sách, pháp luật với một đối tượng xã hội cụ thể là NKT.
Toàn bộ quá trình giám sát đã được thực hiện trên địa bàn 13 tỉnh/thành phố và 9 Bộ, ngành có liên quan. Báo cáo đã chỉ rõ kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về NKT, đưa ra đánh giá chung và chỉ rõ những hạn chế cũng như nguyên nhân. Ủy ban các vấn đề xã hội cũng đã đưa ra rất nhiều đề xuất và kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách và pháp luật với NKT. Qua bản báo cáo chi tiết, số liệu về NKT được trình bày vô cùng chi tiết, cụ thể (xem bảng dưới đây): 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Số liệu cơ bản về ngƣời khuyết tật(tính đến tháng 6/2015) (Theo Báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) TT Số lƣợng (ngƣời) Tỷ lệ (%) 1 Tổng số NKT khoảng 7 triệu 7,8% dân số 2 NKT phân theo giới - Nữ 4,06 triệu 58% NKT - Nam 2,94 triệu 42% NKT 3 NKT là trẻ em 1,981 triệu 28,3% NKT 4 NKT là người cao tuổi 714.000 10,2% NKT 5 NKT thuộc hộ nghèo 700.000 10% NKT 6 NKT cô đơn, không có người phụng dưỡng: - NKT cô đơn sống ở cộng đồng: 24.785 - NKT cô đơn được tiếp nhận vào 10.