Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, người khuyết tật chiếm khoảng 10% dân số toàn cầu, tương đương hơn 600 triệu người đang phải đối mặt với nhiều rào cản tiếp cận an sinh và dịch vụ xã hội. Tại Việt Nam, số liệu từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2015 chỉ ra cả nước có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% tổng dân số, trong đó có tới 700.000 người thuộc diện hộ nghèo. Thực tế cho thấy, việc đảm bảo sinh kế và tạo cơ hội việc làm bình đẳng không chỉ là quyền con người căn bản theo Công ước Quốc tế CRPD mà còn là chìa khóa then chốt để thúc đẩy hòa nhập xã hội bền vững.

Tại khu vực nông thôn miền núi, đời sống của người khuyết tật gặp muôn vàn khó khăn do tư liệu sản xuất hạn chế, cơ sở hạ tầng thiếu khả năng tiếp cận và nhận thức cộng đồng còn định kiến. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Đào Thị Lê Mai tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (người hướng dẫn khoa học: PGS. Phạm Văn Quyết) tập trung giải quyết vấn đề cấp bách: Nhận diện thực trạng sinh kế và đánh giá hiệu quả các hoạt động trợ giúp việc làm cho người khuyết tật tại cơ sở.

Mục tiêu cụ thể của công trình là khảo sát toàn diện đời sống của 134 người khuyết tật tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn nghiên cứu từ tháng 11/2016 đến tháng 8/2017. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các hàm ý can thiệp chuyên môn, hướng tới nâng cao tỷ lệ người khuyết tật có việc làm ổn định từ mức 26,2% hiện tại lên các mức cao hơn, tạo động lực tự chủ kinh tế cho các hộ gia đình yếu thế trên địa bàn 23 thôn hành chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba khung lý thuyết trụ cột trong khoa học xã hội và công tác xã hội chuyên nghiệp:

Thứ nhất, Lý thuyết Hệ thống - Sinh thái định hình góc nhìn đa chiều về mối tương tác giữa cá nhân người khuyết tật với các tầng môi trường. Cấp độ vi mô phản ánh năng lực nội tại và mối quan hệ gia đình; cấp độ trung mô bao gồm sự hỗ trợ từ cộng đồng làng xóm, các xưởng sản xuất và trạm y tế địa phương; cấp độ vĩ mô gắn liền với các chính sách như Luật Người khuyết tật năm 2010 và Đề án 1019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Thứ hai, Tháp nhu cầu của Abraham Maslow giúp phân tích lộ trình chuyển hóa tâm lý của thân chủ. Người khuyết tật chỉ có thể vươn lên đáp ứng nhu cầu tự khẳng định và hòa nhập khi các nhu cầu sinh lý cơ bản và nhu cầu an toàn về thu nhập được đảm bảo.

Thứ ba, Khung sinh kế bền vững của Cục Phát triển Quốc tế Anh (DFID) phân tích 5 nguồn vốn sinh kế thiết yếu gồm: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính. Khung lý thuyết này làm rõ cách thức người yếu thế chuyển hóa nguồn lực nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế.

Các khái niệm công cụ nòng cốt được chuẩn hóa gồm: Người khuyết tật (theo Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010), Sinh kế (theo khung định nghĩa của Chambers và Conway năm 1992) và Hoạt động hỗ trợ sinh kế từ góc độ công tác xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp với quy trình thu thập và xử lý thông tin khoa học:

Về nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Tác giả tiến hành xử lý dữ liệu thứ cấp từ toàn bộ 134 hồ sơ quản lý người khuyết tật tại 23 thôn của xã Việt Ngọc. Dữ liệu sơ cấp định tính được thu thập thông qua cỡ mẫu phỏng vấn sâu trực tiếp gồm 25 đối tượng: 16 người khuyết tật thuộc nhiều dạng tật khác nhau, 01 cán bộ chuyên trách Lao động - Thương binh và Xã hội xã, 05 cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã và 03 chủ cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân tại địa bàn.

Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu tiêu chí, tập trung vào 84 người khuyết tật trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi nhằm phản ánh chính xác nhất nhu cầu việc làm thực tế.

Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Phương pháp phân tích tài liệu, quan sát bán cấu trúc và phân tích nội dung phỏng vấn sâu kết hợp thống kê mô tả. Sự kết hợp này giúp đào sâu những rào cản vô hình về định kiến và tâm lý tự ti của thân chủ mà các bảng hỏi định lượng đơn thuần không thể bộc lộ hết. Quá trình thu thập thực địa hoàn thành trong khung thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 8/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích từ hồ sơ quản lý và số liệu khảo sát thực tế làm sáng tỏ bức tranh sinh kế của người khuyết tật tại xã Việt Ngọc qua các khía cạnh:

Thứ nhất, cơ cấu dạng tật và phân bố độ tuổi: Toàn xã ghi nhận 134 người khuyết tật trên tổng số 8.628 dân cư tộc người tại địa phương. Khuyết tật vận động chiếm tỷ lệ áp đảo với 38% (51 người), đa khuyết tật chiếm 31,4% (42 người), khuyết tật trí tuệ chiếm 24,6% (33 người) và nhóm khiếm thị, khiếm thính, khuyết tật nói chiếm 6% (8 người). Trong nhóm 84 người thuộc độ tuổi lao động (15 đến 60 tuổi), nhóm tuổi từ 46 đến 60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,6% (40 người), nhóm 31 đến 45 tuổi chiếm 38,2% (32 người) và nhóm 19 đến 30 tuổi chiếm 14,2% (12 người).

Thứ hai, rào cản nghiêm trọng về học vấn: Có tới 77,5% người khuyết tật trong độ tuổi lao động (65/84 người) chưa từng được đến trường học văn hóa; tỷ lệ hoàn thành cấp trung học cơ sở chỉ đạt 7,1% (6 người) và trung học phổ thông đạt 6% (5 người). Tỷ lệ người khuyết tật từng qua đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp hoặc đại học ghi nhận mức tuyệt đối là 0%.

Thứ ba, tình trạng việc làm bấp bênh: Tỷ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động không có việc làm lên tới 55,9% (47/84 người); 17,9% (15 người) từng có việc làm nhưng đã mất việc do bệnh tật hoặc tai nạn; chỉ có 26,2% (22/84 người) hiện có việc làm. Trong số 22 người đang lao động, 68,1% (15 người) làm nông nghiệp thuần túy, 18,2% (4 người) buôn bán nhỏ lẻ và 13,7% (3 người) làm công việc chân tay thời vụ, hoàn toàn không có ai làm việc trong các doanh nghiệp chính thức.

Thảo luận kết quả

Thực trạng sinh kế bấp bênh tại xã Việt Ngọc bắt nguồn từ sự đứt gãy tương tác giữa các hệ thống xã hội. Về mặt cá nhân, sự thiếu hụt nghiêm trọng về vốn con người khiến người khuyết tật mang nặng tâm lý mặc cảm, không dám chủ động tìm kiếm sinh kế. Về mặt gia đình, có 72/84 người khuyết tật đang sống phụ thuộc cùng người thân trong hoàn cảnh kinh tế eo hẹp, trong khi 12 trường hợp sống đơn thân phải dựa hoàn toàn vào nguồn trợ cấp xã hội ít ỏi hàng tháng.

Về mặt thể chế, chính quyền địa phương dù rất quan tâm nhưng hoạt động trợ giúp mới dừng lại ở việc chi trả chế độ bảo trợ theo quy định mà chưa có các chương trình đào tạo nghề thích ứng hay kết nối tuyển dụng với 3 xưởng sản xuất và cơ sở mộc trên địa bàn. Việc thiếu vắng nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp làm cầu nối trung gian là nguyên nhân chính khiến các chính sách ưu đãi của Nhà nước chưa phát huy tác dụng tại cơ sở.

Để trực quan hóa các phát hiện trên, dữ liệu có thể được thể hiện qua biểu đồ tròn so sánh tỷ lệ việc làm (55,9% thất nghiệp so với 26,2% có việc làm) kết hợp với bảng đối chiếu chéo giữa trình độ học vấn 0% nghề nghiệp và cơ cấu 68,1% lao động nông nghiệp tự phát, minh chứng rõ nét cho vòng luẩn quẩn giữa thiếu hụt kỹ năng và nghèo đói sinh kế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dưới lăng kính công tác xã hội chuyên nghiệp, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp có tính khả thi cao nhằm cải thiện bền vững sinh kế cho người khuyết tật tại địa phương:

Thứ nhất, kết nối hệ thống đào tạo nghề thích ứng và cung ứng việc làm tại chỗ. Nhân viên công tác xã hội chủ động phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tân Yên cùng các xưởng mộc, cơ sở may gia công tại địa phương mở 2 lớp dạy nghề ngắn hạn phù hợp với dạng tật cho tối thiểu 30 người khuyết tật còn khả năng lao động. Thời gian thực hiện: Quý 1 đến Quý 3 năm 2018. Chủ thể thực hiện: Nhân viên công tác xã hội phối hợp với chính quyền xã và doanh nghiệp.

Thứ hai, thiết lập mạng lưới tham vấn việc làm và nâng cao năng lực cộng đồng. Triển khai định kỳ 04 buổi tham vấn tâm lý, hướng nghiệp cho 84 người khuyết tật và thân nhân, đồng thời tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức xóa bỏ rào cản định kiến cho 100% cán bộ đoàn thể tại 23 thôn. Thời gian thực hiện: Từ tháng 1/2018 và duy trì thường niên. Chủ thể thực hiện: Cán bộ công tác xã hội và Ủy ban nhân dân xã Việt Ngọc.

Thứ ba, hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi và chuyển giao kỹ thuật tự tạo việc làm. Ủy thác qua Ngân hàng Chính sách Xã hội tạo điều kiện cho 15 đến 20 hộ gia đình có người khuyết tật tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển mô hình chăn nuôi bò sinh sản, gia cầm, hướng tới mục tiêu nâng thu nhập bình quân đạt trên 2,5 triệu đồng/tháng/người. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2018 - 2020. Chủ thể thực hiện: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Thứ tư, xây dựng mô hình dự án sinh kế điểm có sự quản lý ca của nhân viên công tác xã hội. Thành lập 01 tổ hợp tác sản xuất thủ công hoặc trồng trọt an toàn sinh học dành cho 10 đến 15 người khuyết tật vận động nhẹ, cam kết liên kết bao tiêu sản phẩm đạt 80% sản lượng đầu ra. Thời gian thực hiện: Triển khai thí điểm trong 12 tháng từ tháng 6/2018. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Việt Ngọc phối hợp cùng các tổ chức bảo trợ xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật đa tầng, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

Cán bộ quản lý Nhà nước và cơ quan chuyên trách an sinh xã hội: Lãnh đạo các cấp thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội có thể sử dụng các số liệu thực chứng tại xã Việt Ngọc để đánh giá khoảng cách giữa chính sách vĩ mô với thực tiễn triển khai Đề án 1019/QĐ-TTg, từ đó hoàn thiện các quy định hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật nông thôn.

Nhân viên công tác xã hội và các chuyên viên phát triển cộng đồng: Khai thác quy trình quản lý ca, kỹ năng tham vấn hướng nghiệp và phương pháp kết nối 5 nguồn vốn sinh kế làm tài liệu hướng dẫn can thiệp trực tiếp cho các nhóm yếu thế tại tuyến xã, phường.

Học viên, sinh viên và giảng viên ngành Khoa học Xã hội: Người học chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học và Phát triển nông thôn có thể tham khảo nguồn tài liệu phong phú về phương pháp nghiên cứu định tính, hệ thống số liệu khảo sát 134 trường hợp khuyết tật và khung phân tích sinh kế bền vững DFID phục vụ viết khóa luận, tiểu luận học thuật.

Doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức phi chính phủ: Các chủ đơn vị sản xuất kinh doanh có thể tìm thấy cơ sở khoa học để thiết kế các chương trình trách nhiệm xã hội, xây dựng mô hình xưởng sản xuất hòa nhập và tạo việc làm thích ứng cho lao động khuyết tật tại địa bàn nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ người khuyết tật có việc làm tại xã Việt Ngọc đạt mức bao nhiêu? Theo khảo sát thực tế trên 84 người khuyết tật trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi, tỷ lệ có việc làm chỉ đạt 26,2% (22 người). Đáng chú ý, 68,1% trong số người có việc làm chỉ làm nông nghiệp giản đơn tự cung tự cấp, trong khi tỷ lệ không có việc làm lên tới 55,9% (47 người) và 17,9% người từng lao động nhưng phải bỏ việc vì lý do sức khỏe.

Rào cản lớn nhất đối với sinh kế của người khuyết tật tại địa phương là gì? Rào cản lớn nhất nằm ở trình độ học vấn và tay nghề khi 77,5% người khuyết tật trong độ tuổi lao động chưa từng đi học và 0% từng qua đào tạo nghề chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt vốn sản xuất cùng tâm lý tự ti mặc cảm và định kiến xã hội khiến họ gặp muôn vàn trở ngại khi tìm kiếm việc làm tự chủ.

Khung lý thuyết nào được vận dụng xuyên suốt trong công trình nghiên cứu? Luận văn kết hợp chặt chẽ ba khung lý thuyết khoa học gồm: Lý thuyết Hệ thống - Sinh thái của Bronfenbrenner nhằm nhận diện các rào cản đa tầng; Tháp nhu cầu của Abraham Maslow nhằm đánh giá động lực khẳng định giá trị bản thân; và Khung sinh kế bền vững DFID nhằm phân tích 5 nguồn vốn phát triển kinh tế hộ gia đình người khuyết tật.

Nhân viên công tác xã hội giữ vai trò gì trong hoạt động hỗ trợ sinh kế cơ sở? Nhân viên công tác xã hội đóng 4 vai trò nòng cốt: người đánh giá nhu cầu năng lực lao động, người tham vấn tâm lý hướng nghiệp, người kết nối nguồn lực đào tạo với các xưởng sản xuất và người biện hộ quyền lợi bình đẳng. Nhờ đó, người khuyết tật được tiếp cận ít nhất 2 khóa học nghề phù hợp và các gói vay vốn ưu đãi thiết thực.

Mô hình sinh kế nào mang lại hiệu quả cao nhất cho người khuyết tật tại xã Việt Ngọc? Mô hình tổ hợp tác chăn nuôi gia cầm, bò sinh sản kết hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại gia đình mang tính khả thi cao nhất. Mô hình này tận dụng tối đa 966 ha diện tích gieo trồng của xã, phù hợp với điều kiện sức khỏe của 51 người khuyết tật vận động nhẹ và hỗ trợ trực tiếp cho 72 hộ gia đình cải thiện thu nhập ổn định.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng đời sống và sinh kế của 134 người khuyết tật tại 23 thôn thuộc xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
  • Bóc tách các số liệu thực chứng đáng báo động về tỷ lệ thất nghiệp chiếm 55,9%, tỷ lệ chưa từng đi học chiếm 77,5% và 68,1% lao động phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp bấp bênh.
  • Vận dụng thành công các lý thuyết chuyên ngành Công tác xã hội và Khung sinh kế bền vững DFID để làm rõ nguyên nhân gốc rễ gây tổn thương sinh kế.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp khả thi gắn liền với đào tạo nghề thích ứng, tham vấn hướng nghiệp và hỗ trợ nguồn vốn vay sản xuất.
  • Khẳng định vị trí không thể thay thế của nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp trong việc kết nối chính sách Nhà nước với thực tiễn đời sống người yếu thế.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp chính quyền cơ sở đổi mới phương thức trợ giúp xã hội, chuyển dịch từ hỗ trợ nhân đạo thụ động sang trao quyền tự chủ sinh kế bền vững cho người khuyết tật.

Trong giai đoạn 2018 - 2020, Ủy ban nhân dân xã Việt Ngọc và các cơ quan hữu quan cần khẩn trương đưa các giải pháp vào chương trình hành động kinh tế - xã hội thường niên. Các nhà nghiên cứu, cán bộ thực địa và độc giả quan tâm hãy cùng nghiên cứu, chia sẻ và lan tỏa những giá trị nhân văn của luận văn để chung tay kiến tạo một cộng đồng hòa nhập, bình đẳng cho mọi người khuyết tật.