CHƯƠNG I: TONG QUAN NGHIÊN COU 1. Tổng quan nghiên cứu dự báo mưa lũ 1. Các nghiên cứu trên thé giới 1. Dự bảo mưa: Hiện nay, dự báo mưa lũ đồng một vai trò rit quan trọng trong đồi sống phục vụ sự phát iển kinh tế xã hội và thường được cung cấp bởi các trung tâm dự báo khí tượng, thời tiết lớn trên thế giới.
Phin lớn các sản phẩm dự báo mưa đều dựa trên phương pháp dự bảo tổ hợp nhằm nắm bit các nguồn bắt định do trường điều kiện ban đầu gây ra. Hệ thống dự bảo tổ hợp được chạy trên hệ thống siêu máy tính và bắt đầu đưa vào. chạy nghiệp vụ từ đầu những năm 90 dé phục vụ công tác dự bảo hạn vừa và hạn đi. Dy bio tổ hợp nghiệp vụ đầu tiên được tiền hành tai Trung tâm quốc gia dự báo môi trường của Mỹ (NCEP-National Center for Enviromental Prediction) từ năm 1992 dựa trên phương pháp BGM (Breeding of Growing Mode) dé tạ tập hợp các trường ban đầu khác nhau cho mô hình toàn cầu T126 với 28 mực thẳng đứng và thời gian tích phân lên tới 180 giờ (Toth và Kalnay, 1997) [].
Hiện ti, dự bảo tổ hợp cho dự bio hạn vừa của NCEP (GEFS) bao gồm 21 thành phin dựa theo phương pháp mới ET (Ensemble Transform) độ phân giải T190L28 (khoảng 0.7, 28 mục), hạn dự báo 15 ngày (Zhu và cộng sự, 2016) [2] Tại Trung tâm dự bảo hạn vừa Châu Âu (ECMWE ~ Buropcan Center for Medium- range Weather Forecasts) dự bảo tổ hợp cũng được đưa vào nghiệp vụ từ năm 1992 bằng việc sử dụng phương pháp SV (Singular Vector) để tạo nhiễu động ban đầu (Palmer và cộng sự. Hiện nay, hệ thống dự bảo với tên gọi VAREPS (Variable Resolution EPS) có 51 dự báo thành phần được dự bio hàng ngày và cung sắp kết quả cho các nước trong Cộng đồng Châu Âu là thành viên của ECMWF với hạn dự báo 15 ngày, trong đó 9 ngày đầu hệ th hay với độ phân giải TL399L62 (khoảng 50 km, 62 mực) va 6 ngay sau với độ phân giải TL255L62 (khoảng 80 km, 62 mực). Đây à hệ thống dự báo tổ hợp (EPS) hạn vừa có độ phân giải cao nhất hiện nay trên the giới. Tại Trung tâm Khi trợng Canada (CMC-Canadian Meteorological Center), hệ thống <r bảo tổ hợp cũng bắt dầu dưa vào chạy nghiệp vụ sử dụng phương pháp EnKF (Ensemble Kalman Filter) theo Houtekamer và cộng sự (1996).
EPS của CMC cho thấy một sự kết hợp chặt chẽ giữa EF và đồng hỏa số li. Hiện tai, EPS của CMC (CEFS) bao gồm 21 thành phần tương tự như EPS của NCEP với độ phân giải 0.90, 28 mực và hạn dự báo 16 ngày. Tại một số trung tim khí tượng khác như MeteoFrance, BoM, JMA, KMA, CMA cũng bất đầu phát tiễn và sử đụng EPS cho các mô hình toàn trong dự báo hạn vita và hạn dai. Với rắt nhiều EPS từ các trung tim dự báo khác nhau như trên, cộng đồng khỉ tượng đang hướng đến một dự báo siêu tổ hợp, kết hợp tất cả thông tin dự báo từ các EPS thông qua chương trình TIGGE (THORPEX Interactive Grand Global Ensemble) (Philippe Bougeault và cộng sự, 2009)[4].
Thành công bước đầu của TIGGE được thé hiện qua hệ thống dự báo tổ hop Bắc Mỹ NAEFS kết hợp hai hệ thing GEFS của [NCEP và CEES của CMC (Zin và cộng sự, 2009) [3] Ngoài ra, Molteni và công sự (2001)[6), Marsigli và công sự (2001)(7] cũng bắt đầu những nghiên cứu lý thuyết cho phép thực hiện dự báo tổ hợp trên các mô hình khu vực với độ phân giải cao hơn so với mô hình toàn cầu với tên gọi LEPS (Limited-area Ensemble Prediction System). Tuy nhiên, LEPS hướng đến hạn dự báotừ 2 cho đến 5 ngày. Đối với tường hợp này các nhiễu động điều kiện biên sẽ te nên quan trong hơn so với nhiễu động điều kiện ban đầu. Hệ thống được thực hiện đơn giản bằng cách tích phân mô hình khu vực (LM) lồng trong các thành phan của EPS toàn cầu tại ECMWE.
Vào năm 2003, sau những thử nghiệm đầu ê tại ARPA-SIM, hệ thing với lên gọi COSMO-LEPS đã được thực hiện tại ECMWE (Montani và cộng sự 20030)[8]. Theo các đánh giá của Marsigli và cộng sự (2005) [9] đã cho thấy kỹ năng dự bảo của hệ thing này cao hơn so với kỹ năng tương ứng từ hệ thống dự bảo tổ hợp toàn cầu mà LM chạy lồng trong đó. “Cũng với sự phit trig của các hệ thống dự báo tổ hợp kể trn, các trung tâm lớn trên thé giới cũng tiến hành dự báo tắt định với hạn 1-15 ngày dựa trên các mô hình toàn cầu tự phat rin, Tại Trung tâm Dự báo hạn vừa Châu Âu, hệ (hông mô hình dự báo tích hợp IFS (Intergrated Forecast System) được chạy một ngày 2 lẫn, dự báo đến 10 5 ngày với độ phân giải 0. Trường mưa dự báo với thời đoạn 3 ti với 5 ngày đầu trong khi 5 ngày sau thời đoạn dự báo là tiếng Tại NCEP, mô hinh GFS được chạy 4 phiên trong ngày, cách nhau 06 tiéng với các tủy chọn độ phân giải là 025x025 độ, 0.
Thời hạn dự báo của mô h lên đến 384h (15 ngày) hoàn toàn có thé đáp ứng được nhu cầu dự báo mưa hạn vữa, lâm đầu vào cho các mô hình thủy văn hiện nay. Tại Cơ quan khí tượng Nhật Bản (IMA), mô hình GSM đang chạy với độ phân giải 0.25 độ với hạn dự báo lên đến 10 ngày. Trong đó, mô hình chạy mỗi ngày 04 phiên dự báo 84h đầu tiên, riêng dự báo tir 84h đến 240h (10 ngày) được. chạy duy nhất lẫn vào phiên 122.
Dự bán tt Đối với dự báo lũ, B.T Gouwclscuw và cộng sự [10] đã sử dung mô hình LISFLOOD. dự báo lũ hạn vừa với đầu vào dự báo mưa tổ hợp 51 thành phan của Trung tâm dự báo hạn vừa Châu Âu (ECMWE), nghiên cứu cho 2 trường hợp lồ trên sông Meuse (tháng 01/1995) và Oda (tháng 07/1997). Các kết quả cho thấy mô hình LISFLOOD đã cảnh bảo được lũ sớm trước từ 2-3 ngày, đặc biệt là thời điểm xảy ra đỉnh lũ. Mặc dù vậy đối với trường hợp lũ trên sông Odra, mô phỏng định lũ từ mô hình thiên thắp hơn so với thực tế, ‘Vio năm 2008, F.
Pappenberger và công sự [11] đã áp dụng mô hình LISFLOOD để nghiên cứu trận lũ năm 2007 tại Romania, sử dụng đầu vào là lượng mưa dự báo từ các dự bio tổ hợp của nhiều trung tâm lớn trên thể giới như ECMWF, UKMO hay BOM. Kết quả dự báo có thé cảnh báo được trận lồ trước 8 ngày, Kết quả cũng chứng tỏ ring dự báo tổ hợp theo cách tiếp cận đa mô hình có đặc tính trung bình tốt nhất là của ECMWE va UKMO, các kết quả mô phỏng của him phân bổ tức là các giá trị cực trị có thể xây ra Dữ liệt mưa cực tị hạn vừa đến hạn dai (bao gồm cực tr ngày, cực te tẫn và cực tỉ mùa) cũng được nhóm các tác giả C. White và cộng sự [12] tại Đại học Tasmania sử dạng để nghiền cứu dự báo lũ tại Ue 1. Các nghiền cứu trong nước 11.1 Dự báo mưa Hiện nay, một số phương pháp chỉnh đang được áp dụng trong dự bio mưa tại nước ta.
như: Phương pháp synop, phương pháp thống ké và phương pháp mô hình số tị Phuong pháp synop là phương pháp dựa trên các bản đồ synop. Đối với hạn dự báo. gắn sẽ sử dụng trực tgp các bản đồ synop hing ngiy với các hinh thé synop được thể hiện trên bản đổ tại các kỳ quan trắc như 1, 7, 13, 19 giờ thì dự bảo hạn dai sử dụng. các bản đồ khí hậu với các thời đoạn dài hơn như 5, 10 ngảy hay thậm chí 1, 3 tháng.Phương pháp thống ké là phương pháp don giản để dự báo những dị thường của các yếu tổ so với khí hậu trung bình quy mô tháng hay mùa dựa trên những chỉ số liên quan tới nhiệt độ bé mặt biển và dao động Nam.
Trong khi đó, phương pháp dự "báo số trị chỉ mới được bắt đầu và phát triển từ những năm giữa thé ky 20 cho tới nay <a trên việc mô hình hóa các qui tình tương tắc vật ý trong khí quyén và sự tương túc giữa các thành phần khí hậu. 6 Việt Nam, các kết quả nghiên cứu về mưa lớn có gắn vớ thiên ta lĩ lụt đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khác nhau. Đối với ngành Khí tượng thủy văn (KTTV) đó là các nghiên cứu có tính tông kết về các hình thể synop gây mưa lớn ở Miễn Bắc, hoạt động của bão, ATND, gió mùa đông bắc và mưa lũ lớn của Nguyễn Ngọc Thục và Lương Tuấn Minh (1990) [13], và những nhân tổ gây ra mưa lớn, 10 ở sắc tỉnh miễn Trung và Tây Nguyên (Nguyễn Ngọc Thục và cộng sự, 1994), [14] Trong báo cáo của Lê Văn Ảnh (2004)|Iố], mưa, bão, lĩ và thiệt hại do chúng gây ra ở khu vực Bắc Trung Bộ, Bên cạnh đó côn có nghiền cứu cúc loi ảnh thổi tết khỉ tượng thủy văn, thiên tai bit thường ở miễn Trung, (Nguyễn Đức Hậu, 2011)(16) "Nghiên cứu về mưa lũ lớn diện rộng của Lê Bắc Huỳnh, lũ lụt lịch sử đầu tháng XI và đầu thing XII- 999 ở Miễn Trung (2000) [17]. Ngoài ra, côn cố nhữn ig nhiệm vụ chuyên môn, dự án như Tang cường bệ thống dự báo, cảnh báo lũ lụt ở Việt Nam (Tổng cục KTTV, '013)/18l.
Dida trụ, khảo sắt, xây dựng bản đồ phân vũng nguy cơ lũ quét khu vực Miễn Trong, Tây Nguyễn, và xây dưng hệ thống thí điểm phục vụ cảnh bio cho các địa phương cỗ nguy cơ cao xây ra là quốt phục vụ công tắc quy hoạch, chỉ đạo điều hành phòng tránh thiên ti thích ứng với biến đổi khí hậu(Viện Khoa học KTTV&BĐKH, 2015) [19] Tir những năm 2006, cùng sự phát triển của công nghệ máy tính, đường truyễn dữ liệu và sự hợp tắc với các trung tâm dự báo thời tiết lớn trên thé giới, hing loạt các sản phim dự báo số trị được thu nhận và sir dụng dưới dạng số. Đầu tiên phải kể tới là sản phẩm mô bình GSM (Global Spectral Model) của Cơ quan khí tượng Nhật Bản JMA (Japan Meteorological Ageney) được truyền với độ phân giải 1.25 độ kính vĩ và hạn dự bảo lớn nhất mới đến 72h. Sau đ được ning cấp, ảitiến và chay với độ phân giải tỉnh hơn với độ phân giải 0.5 độ kinh vĩ đối với diy đủ các trường khí tượng và 0.25 độ kinh vĩ đối với các trường bé mặt.