Vận động nguồn lực cộng đồng hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy tính cho người khiếm thị

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh vận động nguồn lực cộng đồng nhằm hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy tính cho người khiếm thị, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

73
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Khái niệm công cụ

1.2. Quan điểm của Đảng, nhà nước trong việc nâng cao sự tự tin, hòa nhập cộng đồng cho người khiếm thị

1.3. Một số đặc điểm của người khiếm thị

1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của người khiếm thị

1.3.2. Khả năng của người khiếm thị

1.3.3. Nhu cầu của người khiếm thị

1.4. Tổng quan đời sống của người khiếm thị thôn Đông Trung, Xã Đông Xá, huyện Vân Đồn

1.5. Một số kỹ năng Công tác xã hội được ứng dụng

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TỪ CỘNG ĐỒNG TRỢ GIÚP THÂN CHỦ KHIẾM THỊ HỌC TẬP SỬ DỤNG MÁY VI TÍNH

2.1. Các nguồn lực tại cộng đồng trợ giúp người khiếm thị học tập sử dụng máy vi tính

2.2. Nguồn lực từ chính bản thân người khiếm thị

2.3. Nguồn lực từ gia đình người khiếm thị

2.4. Nguồn lực từ chính quyền địa phương

2.5. Cách thức vận động nguồn lực trợ giúp thân chủ

2.5.1. Lên kế hoạch trợ giúp

2.5.2. Quản lý nguồn lực

2.5.3. Sử dụng nguồn lực

2.5.4. Hỗ trợ sau đào tạo

2.6. Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm

2.7. Tiểu kết chương 2

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hỗ trợ đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị

Hỗ trợ đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị tại Đông Xá là một chủ đề quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm người yếu thế này. Việc sử dụng công nghệ thông tin không chỉ giúp người khiếm thị tiếp cận thông tin mà còn mở ra cơ hội việc làm và hòa nhập xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện đại, kỹ năng máy tính trở thành một yếu tố thiết yếu trong nhiều lĩnh vực. Do đó, việc tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị là cần thiết và cấp bách.

1.1. Tại sao cần hỗ trợ người khiếm thị học máy tính

Người khiếm thị thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và cơ hội việc làm. Hỗ trợ họ học máy tính không chỉ giúp họ tự tin hơn mà còn tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động xã hội. Việc này cũng giúp giảm bớt sự phân biệt và tạo ra một môi trường hòa nhập hơn cho người khiếm thị.

1.2. Lợi ích của việc đào tạo kỹ năng máy tính

Đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị mang lại nhiều lợi ích. Họ có thể sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin, giao tiếp và thậm chí làm việc từ xa. Điều này không chỉ giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn tạo ra cơ hội việc làm mới, giúp họ tự lập và hòa nhập với cộng đồng.

II. Những thách thức trong việc hỗ trợ người khiếm thị học máy tính

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc đào tạo kỹ năng máy tính, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc hỗ trợ người khiếm thị. Những thách thức này bao gồm thiếu nguồn lực, thiếu sự quan tâm từ cộng đồng và khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ.

2.1. Thiếu nguồn lực và cơ sở vật chất

Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để tổ chức các khóa đào tạo. Nhiều trung tâm đào tạo không có đủ thiết bị và phần mềm hỗ trợ cho người khiếm thị, dẫn đến việc họ không thể tiếp cận được các khóa học chất lượng.

2.2. Thiếu sự quan tâm từ cộng đồng

Sự quan tâm từ cộng đồng và chính quyền địa phương là rất quan trọng trong việc hỗ trợ người khiếm thị. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo kỹ năng máy tính cho nhóm người này, dẫn đến việc thiếu các chương trình hỗ trợ.

III. Phương pháp hiệu quả trong đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị

Để hỗ trợ người khiếm thị học máy tính hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp đào tạo phù hợp. Các phương pháp này không chỉ giúp họ tiếp cận công nghệ mà còn tạo ra môi trường học tập thân thiện và hiệu quả.

3.1. Sử dụng công nghệ hỗ trợ

Công nghệ hỗ trợ như phần mềm đọc màn hình và thiết bị hỗ trợ là rất cần thiết trong việc đào tạo người khiếm thị. Những công nghệ này giúp họ dễ dàng tiếp cận thông tin và sử dụng máy tính một cách hiệu quả.

3.2. Tổ chức các khóa học thực hành

Các khóa học thực hành giúp người khiếm thị có cơ hội trải nghiệm thực tế và áp dụng kiến thức đã học. Việc này không chỉ giúp họ tự tin hơn mà còn tạo ra cơ hội để họ giao lưu và học hỏi từ những người khác.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Đông Xá

Nghiên cứu về việc hỗ trợ đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị tại Đông Xá đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Những người tham gia khóa học đã cải thiện đáng kể kỹ năng máy tính và tự tin hơn trong việc hòa nhập xã hội.

4.1. Kết quả đạt được từ các khóa học

Nhiều người khiếm thị đã có thể sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin, giao tiếp và thậm chí tìm kiếm việc làm. Điều này cho thấy sự cần thiết và hiệu quả của việc đào tạo kỹ năng máy tính cho nhóm người này.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ việc tổ chức các khóa học cho người khiếm thị cho thấy rằng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, cộng đồng và chính quyền địa phương để đạt được hiệu quả cao nhất.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho hỗ trợ người khiếm thị

Việc hỗ trợ đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị tại Đông Xá là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm người này. Tuy nhiên, cần tiếp tục nỗ lực để cải thiện và mở rộng các chương trình đào tạo.

5.1. Tầm quan trọng của sự hỗ trợ liên tục

Sự hỗ trợ liên tục từ cộng đồng và chính quyền là rất quan trọng để đảm bảo rằng người khiếm thị có thể tiếp cận các khóa học và công nghệ mới. Điều này sẽ giúp họ không chỉ hòa nhập mà còn phát triển bền vững.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần có nhiều chương trình đào tạo hơn nữa, không chỉ về kỹ năng máy tính mà còn về các kỹ năng mềm khác để giúp người khiếm thị tự tin hơn trong cuộc sống và công việc.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vận động nguồn lực cộng đồng nhằm hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy tính cho người khiếm thị nghiên cứu can thiệp trường hợp thôn đông trung xã đông xá

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm công cụ Người mù Trước hết, người mù hay chính xác hơn là người mù mắt là người do tổn thương thị giác không còn nhìn thấy ánh sáng đối với cả hai mắt (thị lực bằng không). Miền nam gọi là đui đây là những người mù hoàn toàn hay còn gọi là mù tuyệt đối. Tuy nhiên ở nhiều nước, theo định nghĩa pháp lý chính thức, người ta cũng coi như là mù những người mù thị lực trung tâm (nhìn thẳng giữa mắt) đối với con mắt nhìn rõ trong hai con sau khi đã tu chỉnh (correction) dưới 1/20 với thị lực này, người mù không thể phân biệt các ngón tay đối với một bàn tay để trước mắt cách khoảng 50 cm.

Người mù chỉ phân biệt được một cách lờ mờ ánh sáng lọt qua các cửa sổ một gian phòng. Muốn đi lại người mù không thể dùng mắt mà phải quờ quạng, muốn tìm các đồ vật trong phòng phải sờ soạng tất nhiên không thể nhìn rõ nét mặt của người, không đọc được chữ thường trong sách. Cũng có nước như nước Ý chẳng hạn, người ta còn mở rộng định nghĩa mù ra đến những người có thị lực khá hơn trong hai mắt là 1/10 nhưng phần lớn đều theo tiêu chuẩn trên. Ở nước ta, chưa có định nghĩa chính thức về tiêu chuẩn mù.

Nhưng bản thân tiêu chuẩn giám định y khoa về các di chứng vết thương dẫn đến tổn thương cơ quan thị giác, có quy định xếp loại như sau: - Chấn thương khoét bỏ hai nhãn cầu không lắp được mắt giả……. 97% - Mù tuyệt đối hai mắt ( thị lực sáng tối âm tính) ……….… 91% - Mù hai mắt thị lực từ sáng tối đến đếm ngón tay 3 cm ….81% đến 85% - Một mắt khoét bỏ nhãn cầu, một mắt mù ……………. 87% - Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ đếm ngón tay 3cm đến dưới 1/20…………76 đến 80%. Có thể đây là những người thuộc đối tượng mù mà quốc tế quy định.

21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc tế còn quy định những người kém mắt (người loà) là những người có thị lực đối với con mắt nhìn rõ hơn trong hai mắt dưới 4/20. Đối với những người này, với thị lực còn lại khó sử dụng trong học hành và hoạt động nghề nghiệp (tức là khó đọc và viết chữ thường mà không có dụng cụ trợ giúp) Đối chiếu với bảng giám định y khoa của nước ta, những người kém mắt thuộc vào hai loại sau đây: - Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ 1/20 đến 1/10…….71 đến 75% - Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ 1/10 đến 2/10….61 đến 70% Tiêu chuẩn mù trên đây không chỉ làm căn cứ cho các quốc gia thi hành các chính sách trợ giúp như: Giáo dục, việc làm, trợ cấp bù đắp….mà còn làm căn cứ cho các Hội kết nạp hội viên. Thông thường các Hội người mù chỉ kết nạp những người có thị lực dưới 1/20 ( tức 0,5 phần 10), còn các Hội người mù và Người kém mắt thì kết nạp những người có thị lực dưới 4/20 ( tức là dưới 2 phần 10). Trung gian giữa hai loại mù và kém mắt nói trên, còn nhiều loại tổn thương hay rối loạn khác về mắt như: chột, lác (lé hiếng), thông manh ( hay quáng gà), loạn thị, cận thị, viễn thị….họ đều là những người hỏng mắt hay tàn tật về thị lực.

Một điều cần nói là những người bị mù và kém mắt đều chỉ bị tổn thương ở mắt, tức là chỉ bị tổn thương về giác quan thị giác mà thôi, còn các giác quan khác như: Thính giác, súc giác, vị giác, khứu giác, thần kinh, trí tuệ, thể lực vẫn trong tình trạng bình thường. Đây là điểm quan trọng để nhận xét, đánh giá chính xác các ảnh hưởng của thiếu khả năng nhìn đối với người mù. Trong thực tế, tật mù có khi còn kèm theo những tàn tật khác. Ví như: tổn thương về não, về nghe, về tay, chân……Cũng có khi do tổn thương về các bộ phận khác dẫn đến mù, thực chất mắt lại không bị tổn thương ở não dẫn đến bị mù.

22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các trường hợp này, khi nhận xét, đánh giá, ta phải coi những người này như là những người đa tật (nhiều loại tàn tật khác nhau) trong đó có tật mù, có khi phải nhìn nguyên nhân tàn tật khác là chính, còn nguyên nhân mù là thứ yếu. Mù mắt là cái dễ nhìn thấy nhất, do đó, các khó khăn, trở ngại do các nguyên nhân tàn tật khác gây ra, người ta cũng dễ cho là tại tật mù, dẫn đến nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, khoa học [23] Người khiếm thị Người khiếm thị là người sau khi được điều trị và /hoặc điều chỉnh khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối, và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để lên kế hoạch và thực thi các hoạt động hàng ngày.Trong ngôn ngữ thường ngày để nói tránh người ta gọi người mù là người khiếm thị nhưng thực ra hai khái niệm này khác nhau,người mù hoàn toàn không có khả năng nhận thức sáng tối. Để chỉ chung người khiếm thị và người mù người ta dùng thuật ngữ người mù lòa (visually impaired) mà đôi khi còn có tên khác là người suy giảm thị lực. Thống kê trên thế giới vào năm 2002 cho thấy ước tính hiện nay có khoảng 161 triệu người mù lòa, trong đó có 124 triệu người khiếm thị và 37 triệu người mù[2], 90% trong số đó đang sống ở các nước đang phát triển (11,6 triệu người ở khu vực Đông Nam Á, 9,3 triệu người ở khu vực Tây Thái Bình Dương, 6,8 triệu người ở Châu Phi), 1,4 triệu trẻ em dưới 15 tuổi bị mù.

Ngoài ra trên thế giới còn có hàng triệu người khác bị mù chức năng vì tật khúc xạ(cận thị,viễn thị,loạn thị),80% người mù trên 50 tuổi.Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm một người bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng.Hàng năm cả thế giới phải tiêu tốn hơn 42 tỷ đôla Mỹ cho việc chữa trị các bệnh về mắt.Khoảng 75% trong số các bệnh gây mù có thể tránh được bằng các phương pháp điều trị hoặc phòng ngừa[4].Thống kê riêng ở Anh về tuổi khởi phát bệnh mù lòa cho thấy 31% người trả lời nói rằng bắt đầu mắc bệnh khi còn ở độ tuổi lao động (từ 17 đến 59 tuổi), nhưng 56% cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi mới dưới 16 tuổi [24] 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cộng đồng Là một khái niệm mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự của những thành viên chung sống trên cơ sở những giá trị chung, có sự cố kết nội tại, không xuất phát từ những tính toán lợi ích riêng lẻ, hoặc những quy tắc, những văn bản luật định, mà bởi những mối liên hệ sâu hơn hướng tới một sự thống nhất về tinh thần như: Huyết thống, láng giềng, phường hội… (Lê Văn Phú, 2007) hay những rủi ro và nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới chức năng xã hội của cá nhân, gia đình hay nền an sinh của cộng đồng. Cộng đồng trong quan niệm Mác-xít là mối liện hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động. Cộng đồng là một nhóm xã hội hay một tổ chức cùng chung môi trường, mối quan tâm.

Trong cộng đồng người, những nhu cầu, mong muốn, niềm tin, nguồn lực. Vận động nguồn lực cộng đồng Nguồn nhân lực, gồm sức khoẻ, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm của những lao động chính trên địa bàn có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt các vấn đề của cộng đồng. Việc chú ý phát huy mặt tích cực, hạn chế tiêu cực trong mối quan hệ xã hội tại cộng đồng là cần thiết [25] 1. Các lý thuyết áp dụng Lý thuyết nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism).

24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước. Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: Hình 1: Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu cơ bản: Bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.

Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc con người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được, một khi nhu cầu này được đáp ứng con người mới đi có nhu cầu để đi lên điều thỏa mãn cao hơn. Như một nhà 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trị gia từng nói: “Lòng tham của con người là vô hạn, một khi người ta mong muốn được cái này rồi lại muốn được một cái cao sang hơn”. Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hỗ trợ đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị tại Đông Xá" tập trung vào việc cung cấp các chương trình đào tạo kỹ năng máy tính cho người khiếm thị, nhằm giúp họ nâng cao khả năng tự lập và hòa nhập xã hội. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người khiếm thị, từ việc tìm kiếm thông tin đến việc tham gia vào các hoạt động xã hội.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm những phương pháp đào tạo hiệu quả và các nguồn lực hỗ trợ cho người khiếm thị. Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu khác như Luận văn vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Trung Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, nơi khám phá vai trò của nhân viên xã hội trong việc hỗ trợ các nhóm yếu thế. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ USSH hoạt động công tác xã hội trong việc thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách hỗ trợ người khuyết tật. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ USSH vai trò của nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở trong việc thực hiện chế độ chính sách cho người khuyết tật tại Hà Nội, để thấy rõ hơn về sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến người khuyết tật và sự hỗ trợ cần thiết trong xã hội.