Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm công cụ Người mù Trước hết, người mù hay chính xác hơn là người mù mắt là người do tổn thương thị giác không còn nhìn thấy ánh sáng đối với cả hai mắt (thị lực bằng không). Miền nam gọi là đui đây là những người mù hoàn toàn hay còn gọi là mù tuyệt đối. Tuy nhiên ở nhiều nước, theo định nghĩa pháp lý chính thức, người ta cũng coi như là mù những người mù thị lực trung tâm (nhìn thẳng giữa mắt) đối với con mắt nhìn rõ trong hai con sau khi đã tu chỉnh (correction) dưới 1/20 với thị lực này, người mù không thể phân biệt các ngón tay đối với một bàn tay để trước mắt cách khoảng 50 cm.
Người mù chỉ phân biệt được một cách lờ mờ ánh sáng lọt qua các cửa sổ một gian phòng. Muốn đi lại người mù không thể dùng mắt mà phải quờ quạng, muốn tìm các đồ vật trong phòng phải sờ soạng tất nhiên không thể nhìn rõ nét mặt của người, không đọc được chữ thường trong sách. Cũng có nước như nước Ý chẳng hạn, người ta còn mở rộng định nghĩa mù ra đến những người có thị lực khá hơn trong hai mắt là 1/10 nhưng phần lớn đều theo tiêu chuẩn trên. Ở nước ta, chưa có định nghĩa chính thức về tiêu chuẩn mù.
Nhưng bản thân tiêu chuẩn giám định y khoa về các di chứng vết thương dẫn đến tổn thương cơ quan thị giác, có quy định xếp loại như sau: - Chấn thương khoét bỏ hai nhãn cầu không lắp được mắt giả……. 97% - Mù tuyệt đối hai mắt ( thị lực sáng tối âm tính) ……….… 91% - Mù hai mắt thị lực từ sáng tối đến đếm ngón tay 3 cm ….81% đến 85% - Một mắt khoét bỏ nhãn cầu, một mắt mù ……………. 87% - Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ đếm ngón tay 3cm đến dưới 1/20…………76 đến 80%. Có thể đây là những người thuộc đối tượng mù mà quốc tế quy định.
21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc tế còn quy định những người kém mắt (người loà) là những người có thị lực đối với con mắt nhìn rõ hơn trong hai mắt dưới 4/20. Đối với những người này, với thị lực còn lại khó sử dụng trong học hành và hoạt động nghề nghiệp (tức là khó đọc và viết chữ thường mà không có dụng cụ trợ giúp) Đối chiếu với bảng giám định y khoa của nước ta, những người kém mắt thuộc vào hai loại sau đây: - Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ 1/20 đến 1/10…….71 đến 75% - Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ 1/10 đến 2/10….61 đến 70% Tiêu chuẩn mù trên đây không chỉ làm căn cứ cho các quốc gia thi hành các chính sách trợ giúp như: Giáo dục, việc làm, trợ cấp bù đắp….mà còn làm căn cứ cho các Hội kết nạp hội viên. Thông thường các Hội người mù chỉ kết nạp những người có thị lực dưới 1/20 ( tức 0,5 phần 10), còn các Hội người mù và Người kém mắt thì kết nạp những người có thị lực dưới 4/20 ( tức là dưới 2 phần 10). Trung gian giữa hai loại mù và kém mắt nói trên, còn nhiều loại tổn thương hay rối loạn khác về mắt như: chột, lác (lé hiếng), thông manh ( hay quáng gà), loạn thị, cận thị, viễn thị….họ đều là những người hỏng mắt hay tàn tật về thị lực.
Một điều cần nói là những người bị mù và kém mắt đều chỉ bị tổn thương ở mắt, tức là chỉ bị tổn thương về giác quan thị giác mà thôi, còn các giác quan khác như: Thính giác, súc giác, vị giác, khứu giác, thần kinh, trí tuệ, thể lực vẫn trong tình trạng bình thường. Đây là điểm quan trọng để nhận xét, đánh giá chính xác các ảnh hưởng của thiếu khả năng nhìn đối với người mù. Trong thực tế, tật mù có khi còn kèm theo những tàn tật khác. Ví như: tổn thương về não, về nghe, về tay, chân……Cũng có khi do tổn thương về các bộ phận khác dẫn đến mù, thực chất mắt lại không bị tổn thương ở não dẫn đến bị mù.
22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các trường hợp này, khi nhận xét, đánh giá, ta phải coi những người này như là những người đa tật (nhiều loại tàn tật khác nhau) trong đó có tật mù, có khi phải nhìn nguyên nhân tàn tật khác là chính, còn nguyên nhân mù là thứ yếu. Mù mắt là cái dễ nhìn thấy nhất, do đó, các khó khăn, trở ngại do các nguyên nhân tàn tật khác gây ra, người ta cũng dễ cho là tại tật mù, dẫn đến nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, khoa học [23] Người khiếm thị Người khiếm thị là người sau khi được điều trị và /hoặc điều chỉnh khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối, và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để lên kế hoạch và thực thi các hoạt động hàng ngày.Trong ngôn ngữ thường ngày để nói tránh người ta gọi người mù là người khiếm thị nhưng thực ra hai khái niệm này khác nhau,người mù hoàn toàn không có khả năng nhận thức sáng tối. Để chỉ chung người khiếm thị và người mù người ta dùng thuật ngữ người mù lòa (visually impaired) mà đôi khi còn có tên khác là người suy giảm thị lực. Thống kê trên thế giới vào năm 2002 cho thấy ước tính hiện nay có khoảng 161 triệu người mù lòa, trong đó có 124 triệu người khiếm thị và 37 triệu người mù[2], 90% trong số đó đang sống ở các nước đang phát triển (11,6 triệu người ở khu vực Đông Nam Á, 9,3 triệu người ở khu vực Tây Thái Bình Dương, 6,8 triệu người ở Châu Phi), 1,4 triệu trẻ em dưới 15 tuổi bị mù.
Ngoài ra trên thế giới còn có hàng triệu người khác bị mù chức năng vì tật khúc xạ(cận thị,viễn thị,loạn thị),80% người mù trên 50 tuổi.Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm một người bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng.Hàng năm cả thế giới phải tiêu tốn hơn 42 tỷ đôla Mỹ cho việc chữa trị các bệnh về mắt.Khoảng 75% trong số các bệnh gây mù có thể tránh được bằng các phương pháp điều trị hoặc phòng ngừa[4].Thống kê riêng ở Anh về tuổi khởi phát bệnh mù lòa cho thấy 31% người trả lời nói rằng bắt đầu mắc bệnh khi còn ở độ tuổi lao động (từ 17 đến 59 tuổi), nhưng 56% cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi mới dưới 16 tuổi [24] 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cộng đồng Là một khái niệm mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự của những thành viên chung sống trên cơ sở những giá trị chung, có sự cố kết nội tại, không xuất phát từ những tính toán lợi ích riêng lẻ, hoặc những quy tắc, những văn bản luật định, mà bởi những mối liên hệ sâu hơn hướng tới một sự thống nhất về tinh thần như: Huyết thống, láng giềng, phường hội… (Lê Văn Phú, 2007) hay những rủi ro và nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới chức năng xã hội của cá nhân, gia đình hay nền an sinh của cộng đồng. Cộng đồng trong quan niệm Mác-xít là mối liện hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động. Cộng đồng là một nhóm xã hội hay một tổ chức cùng chung môi trường, mối quan tâm.
Trong cộng đồng người, những nhu cầu, mong muốn, niềm tin, nguồn lực. Vận động nguồn lực cộng đồng Nguồn nhân lực, gồm sức khoẻ, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm của những lao động chính trên địa bàn có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt các vấn đề của cộng đồng. Việc chú ý phát huy mặt tích cực, hạn chế tiêu cực trong mối quan hệ xã hội tại cộng đồng là cần thiết [25] 1. Các lý thuyết áp dụng Lý thuyết nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism).
24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước. Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: Hình 1: Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu cơ bản: Bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.
Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc con người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được, một khi nhu cầu này được đáp ứng con người mới đi có nhu cầu để đi lên điều thỏa mãn cao hơn. Như một nhà 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trị gia từng nói: “Lòng tham của con người là vô hạn, một khi người ta mong muốn được cái này rồi lại muốn được một cái cao sang hơn”. Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.