Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Nội dung chương này trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề, qua đó làm rõ vấn đề đã được nghiên cứu và xác định những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết. Bên cạnh đó, chương này còn trình bày khái quát về các khái niệm thường dùng và lý thuyết nghiên cứu của luận án; địa bàn và các tộc người miền núi phía Bắc; điều kiện tự nhiên, địa danh hành chính và dân cư của tỉnh Lâm Đồng.
Tình hình di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015. Trên cơ sở các tư liệu thu thập được, tác giả tập trung trình bày tình hình di dân của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015 dưới tác động của bối cảnh lịch sử và các chủ trương về di dân của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Những chuyển biến kinh tế, văn hóa và xã hội của các cộng đồng dân tộc thiểu số phía Bắc di cư tự do đến Lâm Đồng. Trong chương này, luận án trình bày và phân tích những chuyển biến về kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc thiểu số phía Bắc trên vùng đất mới.
Đồng thời, những yếu tố tác động đến quá trình chuyển biến từ khi di cư đến Lâm Đồng cũng được luận giải trên cơ sở các tư liệu thu thập được. Nguyên nhân, tác động, đặc điểm của di dân tự do và kiến nghị. Nội dung chương này làm rõ nguyên nhân và những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư, hướng di chuyển của người dân; phân tích những tác động của vấn đề di dân tự do đối với kinh tế - xã hội Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015; phân tích những đặc điểm của quá trình di cư. Từ đó, luận án đề xuất một số kiến nghị nhằm ổn định đời sống của các dân tộc thiểu số phía Bắc ở Lâm Đồng và ngăn chặn tình trạng di cư tự do tái diễn trong tương lai.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra 1. Tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài Trên thế giới, lịch sử di dân và vấn đề phát sinh từ hiện tượng này như động lực di dân, thích ứng với môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa của cộng đồng dân di cư cũng như việc quản lý quá trình di dân là những vấn đề được nhiều học giả quan tâm như: E.
Các tác giả này đã xuất bản nhiều công trình về di dân thuộc các lĩnh vực Xã hội học, Dân số học, Nhân chủng học, Kinh tế học. Số lượng công trình nghiên cứu về di dân ở các góc độ khác nhau trên thế giới với một số lượng đồ sộ mà luận án khó có thể đề cập hết. Hai quốc gia đi đầu trong nghiên cứu về di dân là Mỹ và Anh. Những nghiên cứu về di dân sớm nhất trên thế giới xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX ở Mỹ và thực sự phát triển từ thập niên 1960 đến thập niên 1980 (Đinh Quang Hà, 2014, tr.
Điều này hoàn toàn dễ hiểu do đặc điểm ra đời, phát triển và tăng dân số của quốc gia này là quá trình di cư liên tục của các luồng di dân từ các châu Âu, châu Phi và châu Á. Các luồng di dân này đã tác động sâu sắc tới sự phát triển kinh tế và văn hóa Mỹ. Các học giả đã để lại những công trình nghiên cứu có giá trị về di dân quốc tế, đặc biệt là di dân đô thị tiêu biểu như: “Model of Migration and the Intra-urban Case” (Các mô hình di cư và trường hợp nội đô) (E. Moore, 1966), “Migration as a spatial and temporal frocess” (Di cư là một quá trình không gian và thời gian) (C.Curtis Roseman, 1971), “Recent research on migration and mobility: A review and interpretation” (Nghiên cứu gần đây về di cư và tính di động: Đánh giá và diễn giải) (W.
Clark, 1982)… Những nghiên cứu này bao gồm các hướng nghiên cứu về tác động của di dân, phân loại di dân, hành vi di cư, đo lường và giải thích sự di chuyển. Trong khi đó, ở nước Anh lại có nhiều nghiên cứu về di dân nông thôn – đô thị. Đó kết quả của cuộc cách mạng công nghiệp cùng với quá trình đô thị hóa ở Anh cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Đây là nhóm các công trình nghiên cứ về loại hình di dân nông thôn – đô thị với tác giả tiêu biểu E.Ravenstien với “The Law of migration” (Những quy luật về di dân) (1885) đã tổng kết quy luật di dân, nguyên nhân và một vài đặc trưng của quá trình di dân.
Vào cuối thế kỷ XX, sự biến động về kinh tế - xã hội ở nhiều nước châu Âu (Đức, Pháp, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Liên Xô…) cùng quá trình đô thị hóa ở các quốc gia có nền 10 kinh tế mới nổi ở châu Á (Nhật Bản, Thái Lan, Philippines, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia…) đã trở thành động lực thúc đẩy việc nghiên cứu di dân ngày càng phát triển trên quy mô toàn thế giới. Các nghiên cứu tập trung vào từng lĩnh vực chuyên sâu đối với mỗi loại hình di dân, đặc biệt là di dân nông thôn – đô thị, chẳng hạn như: “Rural-Urban Migration in Economic Development” (Di cư nông thôn-thành thị trong phát triển kinh tế) (Bhattacharya, B., 1993), “Changing Labor Market Conditions and Economic Develop- ment in Hong Kong, the Republic of Korea, Singapore, and Taiwan, China” (Thay đổi điều kiện thị trường lao động và phát triển kinh tế ở Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan, Trung Quốc) (Fields, G., 1994), “Internal migration in developed countries” (Di cư nội địa ở các nước phát triển) (Greenwood, M.,1997), ““Push” versus “pull” factors in migration outflows and returns: Determinants of migration status and spell duration among China’s rural population” (Các yếu tố “đẩy” so với “kéo” trong dòng di cư ra và quay về: Các yếu tố quyết định tình trạng di cư và thời gian di cư của dân số nông thôn Trung Quốc) (Hare, D. Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu về di dân ở các nước đang phát triển trong khuôn khổ các dự án nghiên cứu được tài trợ bởi một số quốc gia và tổ chức quốc tế. Những kết quả nghiên cứu về di dân của các quốc gia trên đã hình thành các lý thuyết về di dân bao gồm: lý thuyết xã hội về quy luật di dân liên quan đến quy mô dân số và khoảng cách di dân của E.Ravenstein (1885); lý thuyết “Hai khu vực” dưới góc độ kinh tế của Hawley (1950) và Arthus Lewis (1954) lý giải sự di dân từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp do áp lực đất sản xuất nông nghiệp và chênh lệch về cơ hội việc làm; lý thuyết “Lực hút – lực đẩy” của E.
Evertt Lee (1966) trong “A Theory of Migration” (Lý thuyết di dân) phân tích nhân tố ảnh hưởng đến di dân từ nơi đi và nơi đến; lý thuyết di cư nông thôn – thành thị của Harris và Torado (1970) giải thích về sự chênh lệch thu nhập đã tạo động lực di dân từ nông thôn ra đô thị. Các lý thuyết về di dân, nhất là lý thuyết “Lực hút – lực đẩy” được ứng dụng phổ biến trên thế giới trong các nghiên cứu về di dân hiện nay. Như vậy, những nghiên cứu nêu trên chú trọng phân tích các nhân tố tác động đến quá trình di dân, đặc biệt quan tâm đến nhân tố kinh tế; đồng thời xác lập phương pháp nghiên cứu về di dân là phương pháp định lượng và phương pháp so sánh. Nghiên cứu về di dân như là một sự kiện theo dòng chảy của lịch sử, lý giải sự tác động của hiện tượng này đối với lịch sử phát triển của một vùng đất, cũng như phân tích sự thích ứng của 11 người di cư với môi trường mới theo chiều dài lịch sử vẫn là một đề tài còn thiếu vắng.
Các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước ❖ Nghiên cứu về di dân ở Việt Nam Ở Việt Nam, di dân là một hiện tượng diễn ra liên tục trong suốt chiều dài lịch sử. Hiện tượng này có mối liên hệ chặt chẽ trong việc hình thành, mở rộng lãnh thổ quốc gia, gắn liền với nhiều vấn đề quan trọng của phát triển bền vững như phân bố lại lực lượng sản xuất, những vấn đề về kinh tế - xã hội, môi trường và tài nguyên. Từ sau năm 1975, cuộc di dân do Nhà nước tổ chức để thực hiện mục tiêu phân bố lại dân cư và lao động trong cả nước đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả. Tuy nhiên, khi quá trình công nghiệp hóa được đẩy mạnh, di dân đặt ra nhiều hệ quả phải giải quyết về kinh tế - xã hội ở các đô thị thì vấn đề di cư ở Việt Nam mới thực sự được triển khai.
Từ những năm cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI trở lại đây, có nhiều công trình nghiên cứu về di dân được thực hiện ở Việt Nam. Vấn đề di dân và quản lý di dân cũng được nhiều học giả trong nước nghiên cứu như: Tương Lai, Đặng Nguyên Anh, Khổng Diễn, Đinh Quang Hà, Lê Bạch Dương, Trịnh Khắc Thẩm, Đặng Thị Thanh Nhàn, Hà Thị Phương Tiến… với các xu hướng nghiên cứu như sau: Về các loại hình di cư, di cư nông thôn – đô thị chiếm được sự quan tâm lớn của nhiều học giả do quá trình di dân ồ ạt về các thành phố lớn của Việt Nam, đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.