Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm - Tập quán: Tập quán là một thuật ngữ được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm tập quán được nêu tại khoản 1, Điều 5 của Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự”. Dưới cách tiếp cận ở lĩnh vực khoa học xã hội thì tập quán là “thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày, được mọi người công nhận và làm theo” [62, tr.
Mặc dù có nhiều các tiếp cận khác nhau nhưng có chung quan điểm về tập quán, đó là những thói quen được hình thành, tồn tại lâu dài trong cuộc sống, lao động hàng ngày, có tính phổ biến, được cộng đồng thừa nhận và thực hiện một cách thường xuyên. Tập quán gần với thói quen vì nó có tính ổn định, khó thay đổi trong thời gian ngắn. - Nghi lễ (ritual): Về mặt từ nguyên, “nghi lễ” có nguồn gốc từ tiếng La tinh là ritus – dùng để chỉ những hành vi tôn giáo có trật tự trong sự quan hệ với thế giới siêu nhiên. Từ điển Tiếng Việt thì nghi lễ là “nghi thức và trình tự tiến hành của một cuộc lễ” [58;430].
Như vậy chúng ta có thể hiểu nghi lễ là diễn trình thực hiện một cuộc lễ được chuẩn bị và sắp xếp các nghi thức khác nhau trong mỗi một nghi lễ khác nhau. Đồng thời mỗi nghi lễ lại có nhiều nghi thức khác nhau, song đôi khi cũng giống nhau. Tuy nhiên đứng trên các quan điểm nghiên cứu Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học, Nhân học… thì nghi lễ có những ý nghĩa khác nhau. Theo một số công trình nghiên cứu, từ xa xưa con người đã biết tổ chức thực hành những hoạt động nhằm cầu khấn với đấng thần linh nhằm che chở cho con người trước những 19 hiện tượng bất lợi của thiên nhiên.
Những hoạt động đó được gọi là nghi lễ - nhằm đáp ứng nhu cầu cần được bình an của con người để chống chọi với những hiểm nguy luôn rình rập. B Tylor trong công trình “Văn hóa nguyên thủy”, đã dành một chương cuối cùng để viết về nghi thức và lễ nghi. Ông có quan điểm cho rằng giữa nghi thức tôn giáo và nghi lễ có những đặc điểm chung, nội hàm chung: “các nghi thức tôn giáo được chia làm hai phần nhưng thực tế là hòa làm một. Một phần có ý nghĩa mô tả - ghi nhớ hay tượng trưng, vì đó là biểu hiện theo lối kịch của tư tưởng tôn giáo, hay ngôn ngữ điệu bộ của tôn giáo, còn phần khác thì đó là phương tiện giao tiếp với những thực thể linh hồn hay tác động tới chúng”[22, tr.
Tylor còn cho rằng nghi lễ là “cầu nguyện, hiến tế, nhịn ăn, định hướng và tẩy uế” [22, tr. Xuất phát từ nhu cầu của đời sống tâm linh, ứng với tâm lý lo sợ và mong muốn sự bảo hộ của các vị thần linh, cho nên xã hội loài nguời ngay từ thời xa xưa đã hình thành nên một hệ thống tín ngưỡng phong phú và đi kèm theo đó là hệ thống nghi lễ liên quan. Nhờ việc thực hành nghi lễ, những người đang sống trong một xã hội trần tục cầu cúng thần linh những khát vọng, ước muốn của bản thân mỗi con người. Trong công trình Nhân học Đại cương của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh công bố năm 2013 có nhận định “nghi lễ trong phạm vi nào đó cũng như phong tục tập quán là quy ước lặp đi, lặp lại thành thói quen, ăn sâu thành nếp vào tâm thức tôn giáo, vào đời sống xã hội – văn hóa, trong sản xuất và sinh hoạt của cá nhân hoặc của cả cộng đồng, được mọi thành viên trong cộng đồng thừa nhận và làm theo” [16, tr.
Nghi lễ bao gồm hai loại nghi lễ thế tục và nghi lễ tôn giáo. Tuy nhiên, qua công trình nghiên cứu khác, các nhà khoa học lại chia nghi lễ ra nhiều loại khác nhau như hệ thống nghi lễ trong nông nghiệp cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa; nghi lễ trong ngư nghiệp cầu cho thuận buồm xuôi gió; nghi lễ trong việc thờ cúng tổ tiên những thế hệ đã có công sinh thành và dưỡng dục; nghi lễ cộng đồng tôn giáo và nghi lễ liên quan đến vòng đời của mỗi con người. 20 Từ những tập hợp quan niệm về nghi lễ nêu trên, học viên cho rằng nghi lễ là các nghi thức được thực hiện theo diễn trình một cách có trật tự, hệ thống trong một không gian thiêng được những cá nhân tạo nên trên cơ sở những đặc điểm văn hóa truyền thống với những mục đích khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân và cộng đồng. - Nghi lễ vòng đời người: Nghi lễ vòng đời người được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và được nhiều ngành khoa học quan tâm như Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học… Trong công trình Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng, tác giả Võ Thành Hùng dẫn từ một công trình nghiên cứu khác đã nhận định rằng “nghi lễ vòng đời người xuất hiện cùng với xã hội loài người.
Trải qua thời gian, những nghi lễ ấy một mặt được duy trì, một mặt được phát triển, hoàn thiện và xuất hiện những nghi lễ mới. Trong những nghi lễ ấy, có nhiều nghi lễ không chỉ gắn với đời sống tâm linh mà còn đánh dấu những chặng đường trưởng thành của một con người, là những kỷ niệm mà con mỗi con người trong cuộc đời chỉ trải một lần như: lễ đặt tên, lễ cưới, lễ lên lão” [26, tr. Như vậy, nghi lễ vòng đời người gắn với mỗi dân tộc, phản ánh những đặc điểm văn hóa xã hội của mỗi cộng đồng. Thông qua nghi lễ, từng cá nhân được khẳng định ở mỗi giai đoạn của vòng đời.
Đặc biệt, nghi lễ vòng đời không phải là yếu tố bất biến mà nó được bồi đắp, loại bỏ, hoàn thiện trong tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc. Do vậy, khi nghiên cứu nghi lễ vòng đời người Mạ, chúng tôi sẽ tìm hiểu biến đổi của những hiện tượng văn hóa liên quan trong các nghi lễ so với khoảng thời gian được xác định. Đây cũng là điểm quan trọng của luận văn này hướng tới. Theo Ngô Đức Thịnh thì nghi lễ vòng đời là “những nghi lễ liên quan đến cá nhân, từ khi sinh ra đến khi chết” [50, tr.
Nghi lễ vòng đời là cách ứng xử của cộng đồng đối với một cá nhân, cũng như đối xử với toàn bộ xã hội và thế giới tự nhiên. Đồng thời nghi lễ vòng đời là nghi lễ mà gia đình, dòng họ, các tôn giáo… thực hiện cho mỗi cá nhân trong phạm vi xã hội quản lý; là nghi lễ gắn với chu kỳ sinh học của mỗi cá nhân, từ lúc còn phôi thai cho đến lúc chết. Cũng như những nghi lễ khác, nghi lễ vòng đời thể hiện sự quan tâm, chăm sóc giữa con người với 21 nhau nhằm bảo toàn nòi giống và bảo toàn xã hội loại người. Chúng ta có thể thấy rằng tập tục, nghi lễ vòng đời là “thế ứng xử của mỗi con người trước các mối quan hệ tổng hòa Nhân – Địa – Thiên” [63, tr.
Nghi lễ vòng đời không chỉ giới hạn ở phạm vi từng cá nhân riêng lẻ mà nó có liên quan đến nhiều cá nhân, cộng đồng, chịu sự tác động của những đặc điểm văn hóa, xã hội của cộng đồng mà chủ thể là một thành viên. Nghi lễ chu kỳ vòng đời người bao gồm nhiều giai đoạn như: mang thai, sinh đẻ, thời ấu thơ, tuổi dậy thì, hôn nhân, tuổi già và qua đời. Mỗi giai đoạn của đời người đều chứa đựng những nhân tố, giá trị văn hóa khác nhau. Hầu hết, mỗi cá nhân sống trong xã hội đều phải trải qua nhiều giai đoạn theo chu kỳ sinh học.
- Sự khác nhau giữa nghi lễ vòng đời và nghi lễ chuyển đổi: Nghi lễ chuyển đổi là thuật ngữ do nhà nhân học Arnold Van Gennep lần đầu đưa ra trong công trình nghiên cứu Rites of Passage (1905). Công trình nghiên cứu khá sâu những nghi lễ liên quan đến thời kỳ chuyển tiếp, có tính chất quyết định đến đời sống xã hội con người. Theo ông giữa nghi lễ chuyển đổi và nghi lễ vòng đời khác nhau ở nhiều đặc điểm. Trong khi nghi lễ vòng đời người là những chu kỳ đời người thiên về quy trình sinh học (sinh ra, trưởng thành, kết hôn, già yếu và chết đi), thì nghi lễ chuyển đổi được tiến hành khi một cá nhân được chuyển từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác.
Nghi lễ chuyển đổi thể hiện được nhiều sự kiện và nhiều biến đổi có thể mang tính sinh học nhưng cũng có thể mang tính xã hội. Theo Arnold Van Gennep nghi lễ chuyển đổi bao gồm ba giai đoạn: trước ngưỡng: giai đoạn tách rời (Separation); trong ngưỡng: giai đoạn quá độ (transition) và sau ngưỡng: giai đoạn tái hội nhập (incorporation). Tức là “một cá nhân trước hết sẽ bị tách ra khỏi xã hội theo nghi thức, sau đó bị cô lập trong một khoảng thời gian và cuối cùng tái hội nhập với xã hội trong vai trò vị trí mới” [16, tr. Như vậy, trong mỗi xã hội, mỗi cộng đồng có đặc điểm văn hóa khác nhau thì hình thức thực hiện nghi lễ chuyển đổi sẽ hoàn toàn khác nhau.
Đồng thời, trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân nghi lễ chuyển đổi không chỉ diễn ra một lần mà có thể có nhiều lần nhằm thay đổi vị thế của cá nhân trong xã hội mà họ đang sinh sống. 22 Trong công trình này, học viên quan tâm, nghiên cứu nghi lễ vòng đời theo những chu kỳ sinh học gắn với cuộc đời của mỗi con người từ lúc sinh ra đến khi chết đi. Lý thuyết nghiên cứu - Lý thuyết chức năng (Funtinonalism): Trước hết, luận văn của học viên áp dụng lý thuyết chức năng gắn liền với tên tuổi nhà khoa học Bronislaw Malinowski (1884 - 1942) và Radcliffe – Brown (1881 – 1955). Bronislaw Malinowski quan tâm đến chức năng nhu cầu của cá nhân và đại diện cho chức năng tâm sinh lý cá thể.