đặt vấn đề dân số lên hàng đầu và coi đó nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Với mục tiêu hàng đầu là giảm sinh, chương trình dân số nước ta chưa chú ý thích đáng đến vấn đề chăm sóc SKSS, chưa có điều kiện gắn kết các yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Để khắc phục hạn chế đó và đáp ứng yêu cầu qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần quan tâm đến vấn đề chăm sóc SKSS và truyền thông thay đổi hành vi chăm sóc SKSS để tạo ra một lực lượng khỏe mạnh về thể chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và nhà nước có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống, sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số bởi vì trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội 8 z nhập quốc tế chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đồng bào dân tộc thiểu số là sự đầu tư mang lại nguồn lợi lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực cho nước ta.
Hơn nữa chăm sóc SKSS là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng của công tác dân số. Đối với chiến lược Dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc SKSS là một bộ phận tối quan trọng. Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại của chiến lược quốc gia này. Tuy nhiên mỗi vùng, mỗi dân tộc khác nhau, chính vì vậy kết quả thực hiện chăm sóc SKSS cũng khác nhau.
Ở miền núi do điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều khó khăn như giao thông đi lại khó khăn, các dịch vụ sức khỏe và thuốc men, trang thiết bị y tế còn thiếu, trình độ dân trí thấp (đặc biệt là phụ nữ) đã hạn chế cơ hội chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em. Đặc biệt, là vấn đề chăm sóc SKSS đối với phụ nữ thiểu số, thực trạng mức sinh cao và phong tục tập quán lạc hậu là một trong nguyên nhân gây nên tình trạng tử vong ở sản phụ và trẻ sơ sinh hoặc ảnh hưởng sức khỏe cho họ sau này. Bên cạnh đó, hệ thống chăm sóc y tế và dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai còn hạn chế so với tình hình chung cả nước. Mục tiêu chăm sóc SKSS phụ nữ dân tộc thiểu số là vấn đề giải quyết lâu dài.
Truyền thông chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số đã được chú trọng song bên cạnh một số thành tựu đạt được vẫn còn một số khó khăn, huyện Anh Sơn, Nghệ An là một ví dụ, ở Anh Sơn hiện nay có mức sinh còn cao, trường hợp tảo hôn, nạo phá thai chui không an toàn còn xảy ra, tỷ lệ áp dụng BPTT kém hiểu quả vẫn còn cao, chăm sóc sức khỏe sinh trước sinh và sau sinh còn nhiều hạn chế. Do đó, nghiên cứu truyền thông chăm sóc SKSS và tác động của nó đến nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS đến nhóm đối tượng là phụ nữ dân tộc 9 z thiểu số là hết sức cần thiết để điều chỉnh kế hoạch, nội dung truyền thông có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dân số trong giai đoạn hiện nay. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS và các yếu tố tác động hoạt động truyền thông, đồng thời tìm hiểu nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS dân tộc thiểu số hiện nay, nhằm đề xuất một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả truyền thông CSSKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số. Vì vậy, mà tôi lựa chọn đề tài: "Truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 2. Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu xã hội học về “Truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay. (Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và Tường Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An)” nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản, đồng thời đánh giá mức độ nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay. Qua đó làm sáng tỏ hơn cho một số lý thuyết xã hội học như lý thuyết hành động xã hội của Max Weber.
Đồng thời từ nghiên cứu này sẽ có một số đóng góp những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn để kiểm nghiệm, minh họa tính tương thích giữa lý thuyết và thực tiễn xã hội, làm sáng tỏ, củng cố và hoàn thiện thêm một số lĩnh vực nghiên cứu xã hội học và truyền thông sức khỏe/ sức khỏe sinh sản. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu về truyền thông về SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức thiết thực. Đề tài không chỉ làm sáng tỏ thực trạng truyền thông về chăm sóc SKSS mà còn làm rõ tác động hoạt động truyền thông về chăm 10 z sóc SKSS tới nhận thức, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số, hơn nữa chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng hoạt động truyền thông về chăm sóc SKSS. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài còn thể hiện ở chỗ sẽ là một sự gởi mở, góp phần tìm ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao công tác truyền thông chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An hiện nay.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về truyền thông chăm sóc SKSS được tiến hành rất sớm trên thế giới, chủ yếu là ở các quốc gia Mỹ và châu Âu. Ở nước ta, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nên văn hóa phương đông, đặc biệt là Nho giáo cho nên các vấn đề về sinh sản, tình dục. Vì vậy nghiên cứu về sức khỏe sinh sản là lĩnh vực mới được nghiên cứu ở nước ta. Ở trên thế giới vào những năm 1970, chưa có những nghiên cứu cụ thể về khía cạnh SKSS, mà nghiên cứu tập trung nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hiện về KHHGĐ đó là công trình nghiên cứu của Freedmkhan.
Cùng thời gian này W.Schramm đã xuất bản cuốn truyện trong KHHGĐ. Qua khảo sát trong 11 nước, ông đã tổng kết 3 yếu tố góp phần thành công trong chương trình KHHGĐ. Đó là sự sẵn có của các dịch vụ, việc cán bộ dân số đến tận nhà vận động và hoạt động của truyền thông đại chúng. Tìm hiểu ảnh hưởng truyền thông đối với mức sinh Freedmkhan cho rằng do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa và truyền thông đã dẫn đến sự cải thiện đáng kể về sức khỏe, vị trí và vai trò của phụ nữ, tác động hiểu quả đến tỷ suất sinh ở các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay.
Nguyên nhân giảm sinh là vô cùng phức tạp. Song lời giải thích có thể nằm trong tư tưởng mới nảy sinh nhờ hệ thống truyền thông. 11 z Năm 1992 hai chiến dịch truyền thông quốc gia đã tiến hành đồng thời ở Nigeria nhằm thúc đẩy việc chấp nhận và sử dụng KHHGĐ trong nam giới và phụ nữ nông thôn ở độ tuổi sinh đẻ. Tại hội nghị dân số thề giới Cairo (Ai cập) và hội nghị thế giới lần thứ tư tại Bắc kinh (Trung Quốc) các đại biểu của nhiều quốc gia đã nhất trí cho rằng bình đẳng giới và vấn đề sức khỏe sinh sản phụ nữ có mối liên hệ mất thiết với nhau.
Đây là vấn đề then chốt đánh giá sự tiến bộ của từng nước đối với vấn đề phụ nữ. Còn ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960 nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Đảng và nhà nước đã dành sự quan tâm đối với công tác dân số, đặc biệt từ khi có nghị quyết hội nghị lần thứ IV của ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII, trên cơ sở đặt công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình là một phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Chính vì vậy, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và nâng cao dịch vụ kế hoạch hóa gia đình được chú trọng cả vùng đô thị, nông thôn và các vùng xa, vùng sâu.
Nhận thức nhân dân được nâng cao, tuy nhiên mục tiêu chỉ dừng giảm tỷ lệ sinh, tăng việc sử dụng biện pháp tránh thai mà chưa chú trọng chất lượng dân số. Nắm bắt tình hình đó mà Đảng và nhà nước đưa ra chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010 đã đánh giá tình hình sức khỏe sinh sản, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản đưa ra mục tiêu mới cho vấn đề này. Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản được nhiều ngành, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và coi đó là công việc cần thiết. Bởi lẽ sức khỏe nhân dân nói chung và người phụ nữ nói riêng là rất quan trọng nó ảnh hưởng đến mọi yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
Phụ nữ có vai trò là tác nhân quan trọng đất nước. Chính vì lẽ đó tác giả của cuốn sách "phụ nữ, sức khỏe và môi 12 z trường" (trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển) do nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2001 đã tập trung nghiên cứu vấn đề mối liên quan điều kiện, môi trường làm việc với sức khỏe lao động nữ, đặc biệt quan tâm sức khỏe sinh sản của lao động nữ, nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi phòng ngừa bảo vệ sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản nói riêng của phụ nữ. Một công trình nghiên cứu đáng chú ý là phân tích tình hình phụ nữ và trẻ em của UNICEP đã phản ánh tình hình kinh tế xã hội của nước ta có ảnh hưởng đến hệ thống chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Việt Nam. Cùng thời gian này,Viện xã hội học đã tiến hành nghiên cứu: "Hoạt động và ảnh hưởng của các kênh truyền thông dân số-kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) đối với đồng bào dân tộc Mông và Dao sống ở miền núi phía Bắc "Công trình đã khảo sát về đặc điểm kinh tế-xã hội và nhân khẩu của cộng đồng dân tộc Mông và Dao ở hai tỉnh Tuyên Quang và Lào Cai.
Hoạt động của các kênh truyền thông hiện có về dân số-kế hoạch hóa gia đình và CSSKSS và mức độ tiếp cận nội dung thông điệp quan các kênh truyền thông của đồng bào dân tộc Mông và Dao.