MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thực hiện Quyết định số 679/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 về Chƣơng trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015 do Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt, hầu hết các tỉnh, thành phố đã đƣợc Bộ Lao động- Thƣơng binh và Xã hội hƣớng dẫn và hỗ trợ triển khai các hoạt động tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho ngƣời bán dâm. Các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS ở một số tỉnh, thành phố có tỉ lệ cao về số ngƣời nhiễm HIV. Hoạt động mại dâm vẫn diễn ra tƣơng đối phức tạp và số lƣợng ngƣời tham gia vào hoạt động mại dâm vẫn tăng, tỷ lệ ngƣời lây nhiễm các bệnh qua đƣờng tình dục mà đặc biệt là lây nhiễm HIV/AIDS qua con đƣờng tình dục còn cao; tỷ lệ ngƣời bán dâm bị bạo hành và phân biệt đối xử vẫn còn khá cao.
Tại các địa phƣơng nhƣ Quận Đồ Sơn, thành phố Hải phòng là một trong những điểm có số lƣợng ngƣời tham gia hoạt động mại dâm tƣơng đối cao trong cả nƣớc với hàng nghìn ngƣời. Từ những thực tế trên cần có các hoạt động tiếp cận chăm sóc sức khỏe và tái hòa nhập cộng đồng cho ngƣời bán dâm nhằm giảm các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục (STIs), lây nhiễm HIV/AIDS. Tại Việt Nam mại dâm là bất hợp pháp và bị nghiêm cấm dƣới mọi hình thức, tuy nhiên mại dâm vẫn luôn tồn tại nhƣ một tất yếu của xã hội và những hệ lụy mà nó gây ra ảnh hƣởng không nhỏ tới các vấn đề phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đặc biệt kéo theo các hệ lụy của xã hội nhƣ các bệnh lây nhiễm STIs, HIV/AIDS.Những dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho những đối tƣợng yếu thế lại chƣa đƣợc tiếp cận hiệu quả, mới chỉ mang tính 7 z hình thức và bƣớc đầu thí điểm tại một số địa phƣơng, do đó cần phải có thời gian để đánh giá hiệu quả của các dịch vụ. Chính vì những lý do trên, để giúp ngƣời bán dâm có thể tự bảo về mình và tiếp cận các dịch vụ xã hội chăm sóc sức khỏe và phòng, chống các đại dịch bệnh HIV/AIDS cho bản thân và cho cộng đồng Tôi mạnh dạn chọn đề tài "Việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ mại dâm và vai trò của công tác xã hội (Nghiên cứu trên địa bàn quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng)".
Dựa trên kết quả đối với những ngƣời đƣợc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và những ngƣời chƣa đƣợc tiếp cận nhằm đánh giá đƣa ra một số khuyến nghị giúp cho các hoạt động tiếp cận sau này mang lại hiệu quả và nhân rộng các hoạt động trong tƣơng lai áp dụng các bài học rút ra từ các hoạt động này. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: Phòng, chống mại dâm nói chung và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ bán dâm, ngƣời làm việc tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm nói riêng là vấn đề đƣợc các cấp chính quyền, đoàn thể thành phố Hải Phòng đặc biệt quan tâm trong những năm vừa qua. Để thực hiện tốt công tác phòng, chống mại dâm Chi cục phòng, chống tệ nạn xã hội thành phố Hải Phòng đƣợc sự chỉ đạo của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội đã phối hợp với các tổ chức quốc tế nhƣ tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phát triển Cộng đồng (SCDI), Quỹ Dân số Liên hợp Quốc (UNFPA). tổ chức xây dựng các mô hình cũng nhƣ thực hiện các hoạt động can thiệp, giảm tác hại cho ngƣời bán dâm tại Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
Thông qua hoạt động xây dựng mô hình hỗ trợ, giảm hại, chính quyền thành 8 z phố sẽ tổng kết và đƣa ra những chính sách thiết thực để thực hiện công tác phòng, chống mại dâm đƣợc hiệu quả. Các nghiên cứu nước ngoài: Mại dâm là một vấn đề khá nổi cộm trong xã hội nhƣng do tính chất nhạy cảm của vấn đề nên hiện nay vẫn còn khá ít những công trình nghiên cứu trong và nƣớc ngoài về lĩnh vực này. Nghiên cứu Cơ sở pháp lý, quyền con ngƣời và phòng, chống HIV đối với ngƣời hành nghề mại dâm ở khu vực châu Á và Thái Bình Dƣơng do Trung tâm Khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng UNDP tháng 8 năm 2011. Nghiên cứu này đã đƣa ra cái nhìn tổng quan về chính sách đối với hoạt mại dâm và những nỗ lực cải thiện chính sách của các nƣớc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng, trong đó có nhận định về chính sách phòng, chống mại dâm ở Việt Nam.
Luận án tiến sĩ: “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” của TS. Trên cơ sở nghiên cứu điền dã tại TP Hồ Chí Minh; Ts. Kimberly Hoàng đã làm việc nhƣ một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau. Theo giáo sƣ xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng “không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng nhƣ tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.” “Tomiye Ishida – Câu chuyện của một gái mại dâm đồng tính tại Mỹ” đây là đề tài kinh tế thuộc những nghiên cứu về phụ nữ tại Mỹ giai đoạn 1993- 1994.
Công trình nghiên cứu này là bài viết của một ngƣời phụ nữ bán dâm đồng tính tại Canada, dƣới cái nhìn của một ngƣời vẫn đang hoạt động mại dâm để nhìn nhận về nguyên nhân làm mại dâm, những khó khăn trong quá 9 z trình bán dâm của những ngƣời bán dâm nói chung và của ngƣời đồng tính nói riêng và những cản trở từ việc ban hành và thực thi pháp luật tại Canada. Qua bài viết này, chúng ta có thể cảm nhận đƣợc những vấn đề khó khăn mà ngƣời bán dâm thƣờng phải đối mặt, ngay cả khi họ hoạt động mại dâm tại một đất nƣớc không coi mại dâm là một hoạt động vi phạm pháp luật và từ đó tìm ra những biện pháp hỗ trợ thích hợp cho ngƣời bán dâm tại Việt Nam. Bài viết “Mại dâm theo nhu cầu - hợp pháp hóa ngƣời mua dâm nhƣ khách hàng tình dục” của Janice G.Raymond – Giám đốc điều hành của Liên minh chống buôn bán phụ nữ (CATW) thuộc Hội đồng kinh tế xã hội Liên hợp Quốc. Bài viết này đã đƣa ra giả thuyết giải thích tại sao ngƣời đàn ông mua dâm và không cho rằng chỉ nhu cầu của nam giới đối với tình dục mại dâm thúc đẩy việc buôn bán ngƣời, mại dâm và kinh doanh tình dục.
Nhƣng tác giả lại khẳng định nhu cầu của nam giới là một yếu tố quan trọng để mở rộng ngành kinh doanh tình dục trên toàn thế giới đồng thời duy trì khai thác thƣơng mại tình dục và làm cho ngƣời mua dâm dễ dàng thoát khỏi sự kiểm tra, phân tích, chỉ trích và sự trừng phạt cho hành động của họ. Bài phát biểu "Mại dâm và quyền dân sự" của tác giả Catharine A.Mackinton tại Hội nghị chuyên đề " Mại dâm: những nghiên cứu khoa học đến hoạt động thực tiễn" đƣợc tổ chức vào 31/10/1992 tại trƣờng đại học Luật Michigan. Bài phát biểu này đã nêu ra quyền dân sự của những ngƣời bán dâm và những khó khăn trong việc tiếp cận những quyền đó, những hạn chế của pháp luật đối với ngƣời bán dâm. Bên cạnh những nghiên cứu trên, có một số nghiên cứu khác về mại dâm nhƣ: Antonian J.U (1996), Gái mại dâm dƣới con mắt nhà tâm lý học”, đã nghiên cứu sâu nguyên nhân của tệ nạn mại dâm dƣới góc độ tâm lý, xã hội của gái mại dâm, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp phòng, chống mại dâm từ 10 z góc độ tâm lý, xã hội.
Balars Gabrielle (1996), Thị trƣờng mại dâm”, đã làm sáng tỏ toàn diện thực trạng mại dâm trên thế giới; chỉ rõ nguyên nhân của mại dâm và giải pháp phòng ngừa mại dâm của một số nƣớc trên thế giới. Các nghiên cứu trong nước: Nghiên cứu Đặc điểm di biến động của ngƣời hoạt động mại dâm nhìn từ góc độ giới năm 2013. Nghiên cứu đƣợc thực hiện bởi Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Cục PCTNXH), Bộ Lao động-Thƣơng binh và Xã hội (Bộ LĐ- TB&XH), với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức Di cƣ Quốc tế (IOM), trong khuôn khổ chƣơng trình đƣợc tài trợ bởi Qũy thành tựu Thiên niên kỷ (MDG- F) của Liên hiệp quốc do Tây Ban Nha hỗ trợ và Chƣơng trình Chung quốc gia về Bình đẳng giới giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hiệp quốc. Nghiên cứu giúp mọi ngƣời có đƣợc sự hiểu biết tốt hơn về vai trò của yếu tố giới trong việc quyết định di cƣ của những ngƣời hoạt động mại dâm, và những khía cạnh mà di cƣ và giới có liên quan đến việc tham gia vào hoạt động mại dâm; lý do và khuôn mẫu di biến động của ngƣời hoạt động mại dâm (cả những ngƣời di cƣ và những ngƣời không di cƣ) cũng nhƣ khả năng dễ bị tổn thƣơng do di biến động của họ, nhìn từ góc độ về giới.
Từ đó đề xuất cụ thể về việc ban hành chính sách và xây dựng các chƣơng trình can thiệp. Đề tài cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng định hƣớng cho công tác phòng, chống tệ nạn xã hội đến năm 2020 của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội năm 2012. Đề tài đã chỉ ra đƣợc cơ sở lý luận và thực tiễn công tác phòng, chống mại dâm trong tình hình hiện tại và đƣa ra một số định hƣớng trong thời gian tới. Nguyên cứu tâm lý của phụ nữ tham gia mại dâm chƣa đến tuổi vị thành niên năm 2003 do Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội chỉ ra rằng đặc điểm tâm lý của tr em gái tuổi vị 11 z thành niên làm nghề mại dâm tác động của mại dâm đến đối tƣợng này và phƣơng pháp ngăn ngừa sự tác động của mại dâm đến phụ nữ chƣa đến tuổi vị thành niên.
Tài liệu dịch Các nghiên cứu quốc tế về phòng, chống mại dâm do Cục phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội thực hiện năm 2013. Tài liệu cung cấp cho ngƣời đọc những thông tin về các biện pháp phòng, chống mại dâm tại một số nƣớc ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng.