CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN. 38 CỦA PHỤ NỮ XÃ TIẾN THỊNH, MÊ LINH, HÀ NỘI. Nhận thức, hành vi của phụ nữ xã Tiến Thịnh về CSSKSS.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh. Nhu cầu và mức độ đáp ứng nhu cầu về CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh. Nhu cầu hỗ trợ kiến thức CSSKSS. Nhu cầu hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ CSSKSS.
Nhu cầu truyền thông CSSKSS cho các thành viên trong gia đình. Mức độ đáp ứng nhu cầu về CSSKSS của phụ nữ. Một số vấn đề đặt ra đối với việc CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh. 63 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ CÁC NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ. Thành lập nhóm. Lý do sử dụng phương pháp CTXH nhóm. Mô tả về nhóm.
Mục đích và mục tiêu sinh hoạt nhóm. Kế hoạch hoạt động. Triển khai hoạt động nhóm. Giáo dục, cung cấp thông tin, kiến thức.
Giao bài tập về nhà sau mỗi buổi sinh hoạt. Thành viên nhóm giao lưu, giúp đỡ nhau. Các hoạt động tạo bầu không khí nhóm. Đánh giá kết quả hoạt động nhóm.
Một số kỹ năng, vai trò của nhân viên công tác xã hội đã thực hiện trong hoạt động nhóm. 84 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ. 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
98 z DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BPPTT Biện pháp phòng tránh thai CEDAW Convention on the Elimination of all Forms of Discrimination against Women (Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ) CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản CTXH Công tác xã hội DS KHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình ĐVT Đơn vị tính GDI Chỉ số phát triển giới KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình ICRW Trung tâm quốc tế nghiên cứu về phụ nữ ICDP International Conference on Population and Development (Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển) NVCTXH Nhân viên công tác xã hội PVS Phỏng vấn sâu SKSS Sức khỏe sinh sản UNFPA United Nations Fund for Population Activities (Quỹ Dân số Liên hợp quốc) UNICEF United Nations Children's Fund (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) i z DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang Bảng 1. Phụ nữ có chồng 25 – 35 tuổi theo nghề nghiệp 34 Bảng 1. Phụ nữ có chồng 25 – 35 tuổi theo trình độ học vấn cao 35 nhất Bảng 1. Phụ nữ có chồng 25 – 35 tuổi theo số con hiện có 36 Bảng 2.
Các nguồn cung cấp thông tin về CSSKSS 39 Bảng 2. Số phụ nữ đang sử dụng biện pháp phòng, tránh thai 41 Bảng 2. Lý do chọn biện pháp phòng, tránh thai 42 Bảng 2. Bệnh phụ khoa phụ nữ Tiến Thịnh biết 48 Bảng 2.
Kiến thức CSSKSS phụ nữ cần được hỗ trợ 55 Bảng 2. Dịch vụ CSSKSS phụ nữ cần được hỗ trợ 58 Bảng 2. Đối tượng trong gia đình, người thân của phụ nữ cần 60 được truyền thông SKSS Bảng 3. Đặc điểm riêng của thành viên nhóm 67 Bảng 3.
Kế hoạch hoạt động hỗ trợ kiến thức CSSKSS của nhóm 69 phụ nữ ii z DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ Số hiệu Tên hình Trang Hình 1. Khung phân tích 14 Hình 1. Tháp Nhu cầu của Abraham Maslow 27 Số hiệu Tên biểu đồ Trang Biểu đồ 2. Các hoạt động CSSKSS phụ nữ Tiến Thịnh biết 38 Biểu đồ 2.
Tỷ lệ người quyết định sử dụng hay không sử dụng 43 biện pháp phòng, tránh thai trong gia đình Biểu đồ 2. Phụ nữ được nghỉ ngơi hoàn toàn sau khi sinh con 46 Biểu đồ 2. Thời gian phụ nữ nên đi kiểm tra sứ 50 khỏe định kỳ Biểu đồ 2. Hình thức hỗ trợ kiến thức CSKSS cho phụ nữ 56 Biểu đồ 2.
Nhu cầu được hỗ trợ về CSSKSS của phụ nữ xã Tiến 61 Thịnh Biểu đồ 2. Chất lượng các dịch vụ CSSKSS tại xã Tiến Thịnh 62 iii z PHẦN I. Lý do chọn đề tài Nhắc đến sức khỏe sinh sản là nói đến một giai đoạn quan trọng trong cả cuộc đời con người, vì nó ảnh hưởng tới toàn bộ sức khỏe và cuộc sống của họ. Sức khỏe sinh sản tốt là sự phát triển hài hòa của mỗi con người về thể lực, tinh thần; là khả năng tái sinh sản, hòa hợp cộng đồng, không có bệnh tật, ốm đau hoặc không tàn phế của bộ phận sinh dục.
Sự hoạt động hài hòa của hệ thống cơ thể và hệ thống sinh sản với mục đích sinh sản hay không sinh sản đều nhằm thực hiện quyền sinh sản của mỗi con người. Phụ nữ là lực lượng chính được đề cập trong CSSKSS vì họ phải mang thai, sinh đẻ và chăm sóc con nhỏ. Bởi vậy, một trong những hướng phát triển quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là các chính sách và chiến lược phát triển con người, trong đó có các quyền của phụ nữ và trẻ em. Đối với người phụ nữ, thiên chức làm mẹ thật thiêng liêng, cao quý.
Quá trình thai nghén và sinh đẻ của phụ nữ là chức năng sinh học nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro tác động đến sự sống và sức khỏe của cả người mẹ và thai nhi. Chính vì vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ là một yếu tố rất quan trọng nhằm đảm bảo cho sức khỏe bà mẹ cũng như những đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh, bình thường. Tăng cường CSSKSS cho phụ nữ cả nước nói chung và cho phụ nữ nông thôn nói riêng đang trở thành một vấn đề ưu tiên của chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong những năm qua; đặc biệt công tác CSSKSS luôn được chú trọng lồng ghép với truyền thông kế hoạch hoá gia đình. Kết quả những hoạt động đó đã làm thay đổi nhận thức của người dân trong việc bảo vệ sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ.
Tuy nhiên, có sự chênh lệch giữa nông thôn và 1 z thành thị, do sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội tại khu vực nông thôn vẫn còn thấp, mức sống của người dân chưa cao và sự hạn chế trong tiếp cận thông tin của họ khiến cho tình trạng khó tiếp cận dịch vụ cũng như thiếu kiến thức về CSSKSS cho phụ nữ nông thôn còn ở mức cao trong khi họ có nhu cầu chính đáng được hỗ trợ về CSSKSS. Công tác xã hội là một nghề nghiệp mang tính chuyên môn và thực tiễn cao, đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, các dự án, hoạt động với cá nhân, nhóm, cộng đồng, hướng tới phục vụ thân chủ và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Một phần quan trọng của CTXH và nhân viên CTXH là đóng vai trò trong hỗ trợ các nhu cầu về CSSKSS của phụ nữ nông thôn bằng các hoạt động chuyên môn của mình. Xã Tiến Thịnh là địa bàn nông thôn, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức trong khi phụ nữ Tiến Thịnh có các nhu cầu được hỗ trợ CSSKSS.
Nhận thức được tầm quan trọng và nghĩa của vấn đề xã hội trên, đồng thời ý thức được vai trò của hoạt động CTXH trong đáp ứng nhu cầu về CSSKSS của phụ nữ nông thôn, tôi chọn đề tài “Nhu cầu hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ nông thôn từ góc độ công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) để làm luận văn tốt nghiệp. Nội dung nghiên cứu bao gồm việc tìm hiểu, đánh giá thực trạng và xác định nhu cầu CSSKSS của phụ nữ có chồng tại xã Tiến Thịnh. Từ đó, tôi sẽ liên kết, ứng dụng các hoạt động CTXH với nhóm phụ nữ để đáp ứng nhu cầu CSSKSS của họ. Nghiên cứu giúp tôi có điều kiện để nêu một số khuyến nghị với địa phương nhằm cải thiện, nâng cao sức khỏe cho nhân dân nói chung và CSSKSS cho phụ nữ nói riêng.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản của phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng đã được thực hiện từ rất sớm trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ các góc độ xã hội học, dân số học. Trong nhiều năm qua, sức khỏe người phụ nữ được quan tâm và đưa lên hàng đầu trong nhiều diễn đàn quốc tế và quốc gia. Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm nghiên cứu về SKSS là từ Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cai-rô, Ai Cập (4/1994). Sau khi định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản tại hội nghị này được thông qua và được thống nhất phổ biến đến các quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của các nhà quản lý xã hội, các nhà khoa học, các nhà giáo dục và toàn xã hội đối với vấn đề SKSS cũng được nâng lên.
Quyền con người trong lĩnh vực tình dục và SKSS được phản ánh trong “Báo cáo Hội thảo” tại Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ICPD năm 2014 được tổ chức bởi Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Văn phòng Cao ủy Nhân quyền và Chính phủ Hà Lan. Bản báo cáo Hội thảo đã thể hiện tóm tắt những thành tựu và kết quả thực hiện các thỏa thuận về quyền con người của Chương trình hành động - Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển trong vòng 20 năm qua (từ 1994 – 2014). Hội nghị xác định ba chủ đề: bình đẳng, chất lượng và trách nhiệm là nền tảng để thực hiện các quyền con người trong lĩnh vực tình dục và sức khỏe sinh sản. Đối tượng phải chịu bất bình đẳng trong CSSKSS là phụ nữ, trẻ em gái, trẻ vị thành niên, người nghèo, người khuyết tật; do những rào cản trong tiếp cận thông tin về sức khỏe tình dục, sinh sản và dịch vụ như: chi phí cao, các yêu cầu pháp lý và rào cản địa lý.
Hội nghị tái khẳng định rằng các quyền y tế, nhu cầu được giáo dục, cung cấp thông tin và các dịch vụ CSSKSS cần phải có sẵn, dễ tiếp cận và có chất lượng tốt, mà không có sự phân biệt đối xử, cưỡng ép hoặc bạo lực. Theo bài viết, cuộc đấu tranh về quyền của phụ nữ đối với sức khỏe tình dục và sinh sản đã thúc đẩy quyền con người của phụ nữ nói chung.