MỞ ĐẦU I. TÍNH CẤP THIẾT Chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình là những vấn đề rất quan trọng được Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển hop tai Cairô tháng 7 - 1994 đặc biệt quan tâm. Điều đó cho thấy rằng chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ không chỉ là vấn để riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHƠP.
Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã đưa vấn dé chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ vào chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010. Những năm qua, cùng với các thành tựu kinh tế - xã hội, vấn để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình đã đạt nhiều thành tựu. Nhiều bệnh tật của đồng bào các dân tộc thiểu số thời bao cấp chưa giải quyết được đến nay không còn là vấn để nhức nhối. Đó là nhờ hệ thống y tế có nhiều tiến bộ vượt bậc, đã ít nhiều tiếp cận đến vùng sâu vùng xa.
Tuy nhiên, đa số đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn sử dụng những trì thức của mình trong việc chăm sóc sức khoẻ (CSSK), súc khoẻ sinh sản (SKSS) và kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ). Những trì thức này được đúc rút từ nhiều đời nay, phà hợp với hoàn cảnh của mỗi tộc người. Và nó trở thành tri thức riêng của mỗi dân tóc, đóng góp vào kho tàng dân gian Việt Nam về chăm sóc sức khoẻ, SKSS và KHHGPĐ ngày càng phong phú hơn. Tuy nhiên, cho đến nay việc nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHGPĐ ở vùng các dân tộc thiểu số chưa nhiều, nhất là ở vùng đồng bào Chăm.
Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 1999, dân số của người Chăm là 132.873 người, tập trung đông nhất ở các vùng đồng bằng ven biển như Ninh Thuận có 57.137 người và Bình Thuận có 29.356 người, số người còn lại cư trú ở An Giang (12.435 người), TP Hồ Chí Minh (5. Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận hiện vẫn còn chế độ mẫu hệ, theo họ mẹ, sinh con gái để nối dõi, sinh sống với nền sản xuất lúa nước là chủ yếu, ngoài ra còn có nghề biển, nghề gốm, nghề dệt. Còn người Chăm ở An Giang theo chế độ phụ hệ, con trai nối dõi và có quyền quyết định, sinh sống bằng nghẻ nông, chài lưới đánh cá trên sông, buôn bán nhỏ, thêu, đệt và làm gốm. Các nhóm tôn giáo chính của người Chăm là Chăm Bàlamôn (tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận), Chăm Hồi giáo Islam (tập trung ở An Giang) và Chăm Bani.
Môi trường sống của đồng bao Cham Ninh Thuan va An Giang đa dạng về mặt tự nhiên, có đặc điểm địa hình cư trú quanh năm bị ngập nước ở một số vùng, thời tiết khắc nghiệt (mưa đầm, nắng gắt, bão lũ, hạn hán). Đồng thời, nhiều phong tục tập quán của đồng bào hiện nay còn duy trì tác động đến môi trường sống và ảnh hưởng đến sức khoẻ như: không trồng cây xanh, cây to xung quanh nhà, trong làng vì sợ ma trú, tục thả rong trâu bò, không có nhà vệ sinh, không có hệ thống thoát và xử lý nước thải nên các chất thải của người và vật, của các làng nghề đã trực tiếp làm ô nhiễm môi trường sinh hoạt của đồng bào, đặc biệt là tục hoả táng người chết của người Chăm Ninh Thuận. Trước đây, tục hỏa táng tươi là phổ biến. Trước khi thiêu cháy hết người Chăm đập hộp sọ của người chết lấy 7 miếng xương trán (đối với Nam) và 9 miếng (đối với Nữ), mài tròn, bỏ vào lọ cùng với một ít tro xương rồi đem chôn vật linh này ở một nơi kín đáo ngoài rừng đợi ngày nhập Kút.
Tro người còn lại không thu don, gặp gió phát tán khắp nơi, gặp mưa theo nước chảy xuống khe, suối mương làm ô nhiễm nguồn nước và không khí. Ngày nay, tục hỏa táng tươi đã giảm nhiều, người chết sau hai đến ba ngày được đem đi chôn, sau một năm lấy đưa lên dàn thiêu và làm các thủ tục như khi thiêu tươi. Những người chết do bị bệnh truyền nhiễm, người Chăm buộc phải đem đi chôn ngay, sau 2 đến 3 năm mới được lấy lên thiêu. Một số phong tục, tập quán, tôn giáo của người Chăm đang trực tiếp hoặc gián tiếp để lại những hậu quả đối với sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ như tập tục cắt da quy đầu, kiêng tắm gội trong thời kỳ kinh nguyệt của người Chăm Islam An Giang.
10 Các bệnh thường gặp như viêm da, viêm khớp, viêm đường hô hấp, dịch đau mắt, nhiễm trùng. thường xuyên diễn ra vào mùa mưa lũ hoặc nắng hạn. Để chữa trị và phòng chống bệnh tật, người Chăm đã sử dụng những tri thức vốn có, được lưu truyền từ lâu đời như tập tục kiêng cữ cho sản phụ, một số thức ăn cay, nóng chữa được bệnh phong hàn. Những trì thức này hiệu quả cao, chỉ phí ít, không gây tác dụng phụ nên rất phù hợp với đồng bào.
Tuy nhiên, nhiều trị thức hay về CSSK, SKSS và KHHGĐ đang có nguy cơ mất dần. Đó là do y học hiện đại đã đến với đồng bào một cách dé dang hon so với các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu. Tri thức về CSSK, SKSS và KHHGĐ của người Chăm ở Ninh Thuận rất khác ở An Giang, KHHGĐ của Chăm Bàlamôn khác với Chăm Hồi giáo Islam. Tục kiêng cữ cho phụ nữ Chăm ở Nam Trung bộ khác với Chăm ở Nam Bộ.
Xuất phát từ các vấn đề trên, trong hai năm 2002 và 2003 đề tài tập trung nghiên cứu "Trí thức của đồng bào Chăm về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sdn va KHHGD tại Ninh Thuận và An Giang" là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách. Kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm cơ sở và luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược cham sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ của dân tộc Chăm trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội của đồng bào Chăm tại Ninh Thuan va An Giang. Lam rõ những giá trị thực tiến về trị thức của đồng bào Chăm trong việc chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ.
Để xuất các chính sách thích hợp, tìm ra những đặc thù về CSSK, SKSS va KHHGD cho đồng bào Chăm để có những can thiệp, trợ giúp có hiệu quả nhằm cải thiện việc CSSK, SKSS và KHHGĐ của đồng bào Chăm.Téng quan điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và dân cư, dân số của đồng bào Chăm tại Ninh Thuận và An Giang 1.1 Đặc điểm môi sinh của người Chăm tại Ninh Thuận và An Giang 1.2 Tình hình kinh tế - xã hội (Tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về thu nhập, mức sống, nhà cửa, điện, nước, học vấn và vệ sinh môi trường. Đặc trưng chủ hộ điều tra 2. Tri thức của đồng bào Chăm trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng dong tai Ninh Thuan va An Giang - Quan niệm về sức khoẻ và bệnh tật của người Chăm. - Một số phong tục, tập quán ảnh hưởng đến sức khoẻ người Chăm.
-_ Các tín ngưỡng và lễ nghi tôn giáo ảnh hưởng đến chăm sốc sức khoẻ đồng bào Chăm. - Những tri thức của người Chăm trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. -_ Kết hợp Đông và Tây y trong việc cham sóc sức khoẻ đồng bào Chăm tại địa bàn nghiên cứu. Thực trạng tri thức của đồng bào Chăm trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại Ninh Thuận và Án Giang Ở phần này, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản qua khía cạnh làm mẹ an toàn.
+ Chăm sóc trước sinh: Khám thai, tiêm phòng uốn ván, cân nặng, bồi dưỡng bà mẹ thai nhị. + Chăm sóc trong khi sinh: Nơi sinh, người đỡ đẻ, những bất thường trong chuyền dạ, mồ đẻ. + Chăm sóc sau sinh: Cân trẻ, nuôi con bằng sữa mẹ (thời gian bắt đầu cho con bú sau đẻ, tuổi cai sữa). + Lao động, ăn uống và nghỉ ngơi trước, trong và sau sinh; kiêng và không kiêng.
KHHGĐ của người Chăm tại Ninh Thuan va An Giang 5, Đề xuất các chính sách thích hợp về chăm sóc sức khoẻ, SKSS và KHHGBD cho đồng bào Chăm. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài tiến hành nghiên cứu và điều tra về chăm sóc sức khoẻ, SKSS và KHHGPĐ thuộc hai nhóm tôn giáo Bàlamôn và Islam cư trú ở Ninh Thuận và An Giang. Đây là 2 địa bàn có người Chăm cư trú nhiều nhất, lâu đời nhất. Để nghiên cứu đề tài sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau: 1.
Phương pháp định tính Điển đã tại thực địa thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm nhằm thu thập tư liện về chăm sóc sức khoẻ, SKSS và KHHGPĐ là chính, đồng thời quan sát, chụp ảnh, miêu tả sự kiện và sự vật.v Phỏng vấn sâu tập trung vào lãnh đạo cộng đồng, ytế địa phương, dân số, trưởng thôn, già làng, mụ vườn, bà lang. Khung phỏng vấn sâu và khung thảo luận nhóm đã được chuẩn bị là những gợi ý cho những người trực tiếp tham gia phỏng vấn sâu. Phương pháp định lượng Điều tra xã hội học thông qua phiếu điều tra đã được chuẩn bị sẵn theo nội dung của đẻ tài. Tổng số phiếu điều tra ở Ninh Thuận là 200, mỗi xã điều tra 100 phiến, ở An Giang điều tra 150 phiếu, mỗi xã 75 phiếu, trong đó tập trung điều tra các hộ có phụ nữ 15 - 49 có chồng.
Căn cứ vào tình hình thực tiên của từng địa phương, đề tài đã chọn tỉnh Ninh Thuận và An Giang, mỗi xã hai làng Chăm đại điện cho hai nhóm tôn giáo Bàlamôn và Islam để điều tra. Đề tài phối hợp với chuyên trách dân số của hai xã lập danh sách các hộ phụ nữ 15-49 có chồng. Khi có danh sách, đề tài tiến hành phân loại đối tượng theo nhóm tuổi và hoàn cảnh kinh tế ( giàu, khá, trung bình, nghèo và rất nghèo), nếu trong nhóm tuổi và nhóm kinh kể có nhiều người thì chọn ngẫu nhiên để điều tra. Phương pháp chọn mẫu 13 3.
Phương pháp chuyên gia và phân tích - Phương pháp chuyên gia: Tranh thủ kinh nghiệm của các chuyên gia từng lĩnh vực liên quan tới nội dung nghiên cứu của đề tài.