CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số quan niệm về văn hóa Văn hóa là một khái niệm hết sức đa nghĩa theo thống kê có tới trên 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, những góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mà họ quan tâm hay nghiên cứu. Văn hoá thường được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó. Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực. Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng.
Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn, văn hóa tộc người để chỉ giá trị trong đời sống tinh thần của tộc người đó. Văn hóa theo nghĩa hẹp đó là những giá trị tinh thần, là đời sống tinh thần của xã hội như đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, thẩm mỹ, tâm linh, nghệ thuật…. Dù số lượng định nghĩa văn hoá có nhiều bao nhiêu đi nữa thì chung qui lại, chúng vẫn chỉ xoay quanh một số khuynh hướng cơ bản. Xét theo cách thức thì ta thấy có hai loại – định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng.
Định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn hoá, ví dụ như theo E.Tylor (1871), văn hoá là “một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được”. Trong loại định nghĩa nêu đặc trưng thì có thể gặp ba khuynh hướng lớn: Khuynh hướng thứ nhất coi văn hóa là những kết -11- quả (sản phẩm: giá trị, truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tư tưởng….) nhất định mà một cộng đồng đã sáng tạo, kế thừa, và tích luỹ; Khuynh hướng thứ hai xem văn hoá như những quá trình ( như là: hoạt động sáng tạo, công nghệ, qui trình, những phương thức tồn tại, sinh sống và phát triển…); Khuynh hướng thứ ba xem văn hoá như những quan hệ, những cấu trúc… giữa các giá trị, giữa con người với đồng loại và muôn loài. Dù theo khuynh hướng nào, mọi định nghĩa văn hoá đều chứa một nét nghĩa chung là “con người”, đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa với con người. Qua các định nghĩa về văn hóa, ta thấy tuy có nhiều điểm riêng theo từng góc độ của nhà nghiên cứu, nhưng khái quát lại giữa chúng có những điểm chung như: Văn hóa là một trong những mặt cơ bản của đời sống xã hội là một hệ thống (các giá trị, các cơ cấu, kỹ thuật, thể chế các tư tưởng…) được hình thành trong quá trình hoạt động sáng tạo của con người, được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ sau.
Mỗi cá nhân muốn trở thành con người xã hội, muốn hòa nhập vào cộng đồng xã hội thì phải tiếp thu, tuân thủ theo các chuẩn mực đó. Trên cơ sở lí luận trên, GS. Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Và ông đi tới kết luận văn hóa gồm bốn đặc trưng (tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh) và ba chức năng cơ bản (tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giáo dục) của văn hóa.
Cách định nghĩa này không những có khả năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn có thể cho phép ta nhận diện được một hiện tượng văn hóa và phân biệt nó với những hiện tượng khác không phải là văn hóa, từ những hiện tượng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo, cho đến những giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử… -12- 1.2 Văn hóa của người Khmer Từ những khái niệm về văn hóa trên và khái niệm văn hóa của Gs. Trần Ngọc Thêm thì ta có thể hiểu văn hóa của người Khmer đó là những giá trị, vật chất, tinh thần mà dân tộc Khmer đã sáng tạo và tích lũy trong cuộc sống và tự nhiên, thể hiện nét văn hóa, tín ngưỡng tạo nên một bản sắc riêng của dân tộc. Trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc trên vùng đất Nam Bộ người Khmer nói chung đã tạo nên một nét riêng, đặc trưng về bản sắc văn hóa của dân mình chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm linh. Văn hóa tâm linh đã tồn tại và chi phối trong sinh hoạt hoạt văn hóa của người Khmer.
Theo nhận định của Nguyễn Đăng Duy: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [18]. Vì tâm linh là cái trừu tượng thiêng liêng, thanh khiết, giá trị tâm linh bắt nguồn từ cái thiêng liêng, là cái nền vững chắc, là nhiều mối quan hệ con người. Khái niệm này bao quát sinh hoạt tinh thần thuộc lĩnh vực tín ngưỡng truyền thống, là một bộ phận của văn hóa dân tộc. “Đồng thời, văn hóa tâm linh còn là văn hóa biểu hiện những giá trị, những niềm tin thiêng liêng kể cả niềm tin tôn giáo” [18].
Con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do con người có đời sống tâm linh, thể hiện mối quan hệ mật thiết với nhau và các giá trị văn hóa tâm linh này tồn tại khi con người còn tồn tại. Người Khmer ở Nam Bộ hay ở Trà Vinh và người Khmer ở Campuchia vốn có cùng tộc người, chung lịch sử trong quá khứ xa xưa, cùng ngôn ngữ, có chung tôn giáo và giống nhau về đặc trưng văn hóa tộc người. Song, họ là hai nhóm người thuộc hai quốc gia riêng biệt. Người Khmer Nam Bộ là cư dân nông nghiệp sinh sống lâu đời ở vùng đất này.
Người Khmer sống trong các phum, sóc, rải rác theo từng cụm lớn, hoặc xen kẽ với các xóm làng của người Kinh, người Hoa hoặc người Chăm. Đặc trưng văn hóa của dân tộc khmer, một dân tộc có mặt sớm ở vùng đất Nam Bộ nhiều ngôi chùa của đồng bào người Khmer trên vùng đất này đã chứng minh được điều đó. Người Khmer cũng kế thừa nền văn hóa Ăngco, nền văn minh -13- lúa nước cộng với tập tục sinh hoạt của những nhóm lưu dân của người Kinh, người Hoa, người Chăm tạo nên một bản sắc, một nền văn hóa riêng của mình. Người Khmer đã có những cống hiến to lớn vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc ở Việt Nam.
Nền văn hóa đó có giá trị tiêu biểu, không lẫn lộn, pha tạp, nhưng vẫn đảm bảo yếu tố hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Về văn học dân gian, người Khmer là chủ nhân di sản của một nền văn hóa phong phú gồm nhiều thể loại: dân ca, truyện cổ, những câu châm ngôn, tục ngữ thường như một lời khuyên răn, một kinh nghiệm sống, những bài hát không chỉ phản ánh kinh nghiệm nông nghiệp mà còn phản ánh đời sống xã hội nhiều tình cảm của người Khmer. Về Văn hóa tôn giáo, văn hóa tôn giáo nổi lên như một sự tự nhiên vốn có, đạo Phật như một tôn giáo của dân tộc mình, các giá trị của tôn giáo đó dần chuyển thành tín ngưỡng của dân tộc. Phật giáo nguyên thủy (hay tiểu thừa), Bộ kinh này sau khi kiết tập đã nhanh chóng lan truyền đến cư dân trong tiểu vùng Đông Nam Á qua đường biển từ phía Nam.
Do đó ta thường gọi tôn giáo của người Khmer là Phái Nam Tông, Đạo Phật nguyên thủy, Phái Tiểu thừa hay Phật giáo Nam Tông Khmer Nam Bộ. Về văn hóa tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Tô tem của người Khmer Nam Bộ cũng khắc rõ hình tượng, hoàn cảnh sống của một tộc người trên vùng đồng bằng trũng nước, cư dân nông nghiệp, về các thần bảo hộ, người Khmer có các tín ngưỡng Arăk và Neakta. Arăk không chỉ là một hình thức tín ngưỡng của dòng họ mà còn có các Arăk bảo vệ nhà (Arăk Fteh), bảo hộ gia đình (Arăk phtan), bảo hộ một khu đất (Arăk phum), hay trấn giữ rừng (Arăk prei). Thần linh gọi chung là NeakTa, được biểu hiện ra có thể phân biệt bốn loại: Các NeakTa có tên gọi theo một động vật trong thiên nhiên, hoặc là tên thực vật, hoặc một đặc thù địa lý; Các NeakTa mang tên người hay có sự tích liên quan đến người; Loại NeakTa mang tên các thần Bàlamôn; Loại NeakTa ở chùa (NeakTa Wat).
Như vậy, tín ngưỡng NeakTa là một mối quan hệ chồng chéo, gồm cả tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tục thờ cúng tổ tiên, đạo Bàlamôn và đạo Phật. Nhận thức được giá trị văn hóa của tín ngưỡng này nên hầu hết người -14- dân Khmer không di cư, di canh, luôn “bám trụ” với vùng sông nước Nam Bộ này, nơi đã sinh ra tổ tiên của mình. Về lễ hội dân gian, thường nổi trội với hai lễ hội lớn là lễ hội đua bò của vùng Bảy Núi – An Giang và lễ hội đua ghe ngo. Một lễ hội mang tính hàm ơn đối với thời tiết thiên nhiên, vật nuôi trong việc canh tác nông nghiệp góp phần cho mùa vụ bội thu tạo nên sức sống, sự phát triển trong đời sống của người nông; Một lễ hội mang tính gợi nhớ tới quá trình khai phá vùng đất hoang vu, quá trình đấu tranh giữa các thế lực để bảo vệ cương thổ.
Bên cạnh những giá trị văn hóa của lễ hội dân gian thì nghệ thuật múa dân gian, Lâm thôn, nghệ thuật múa trống Sadâm, nghệ thuật múa cổ Rôbăm, nghệ thuật hát Aday, nghệ thuật tuồng cổ Dùkê,…tất cả đều có giá trị văn hóa riêng biệt cần phải kiểm kê một cách kỹ lưỡng nhằm gìn giữ và lưu truyền cho hậu thế. Không chỉ có vậy, giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của dân tộc Khmer còn có những ngành nghề nông nghiệp truyền thống như làm lúa nước, làm khô, chế biến thức ăn,…đặc biệt món mắm bù hóc và cốm dẹp là đặc sản mang dân tộc tính rõ rệt của người dân Khmer.