Chương 1: TONG QUAN VE NGƯỜI KHMER Ở TỈNH KIÊN GIANG 1. Môi trường tự nhiên - vị tri địa lý và nguồn gốc dân tộc Khmer 1. Môi trường tự nhiên Kiên Giang là tỉnh có đặc điểm tự nhiên tương đối đa dạng: có đồng bằng, rừng, núi, biển, đảo; có đường biên giới đất liền giáp tỉnh Kampốt vương quốc Campuchia dài 56,8km. Tổng diện tích đất tự nhiên 64.613ha, bờ biển dài gần 200km, vùng biển rộng 60.000km? với 140 hòn đảo lớn nhỏ, hình thành 5 quần đảo.
Kiên Giang mang khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm. Mưa, bão tập trung vào từ thang 8 đến tháng 10, với lượng mưa trung bình hàng năm là 2. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26°C đến 28°C, tháng lạnh nhất là tháng 12, không có hiện tượng sương muối xảy ra. Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trong đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa.
Điều kiện khí hậu thời tiết của Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở phía Bắc không có được. Ít thiên tai, không rét, không có bão đồ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng đổi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng. Vị trí địa lý Kiên Giang là một tỉnh lớn hơn cả so với các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, với diện tích 6.234km?, bao gồm 15 huyện, thành phó. Trong đó, huyện Châu Thành là huyện nông nghiệp, nằm về phía Đông Nam của thành phố Rạch Giá, thuộc vùng Tây Sông Hậu, Tứ giác Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau.
Phía Bắc giáp huyện Tân Hiệp và trung tâm tỉnh, phía Nam giáp huyện Gò Quao và An Biên (Kiên Giang), phía Đông giáp huyện Giồng Riéng và Tân Hiệp (Kiên Giang), phía Tây có cửa sông Cái Bé, Cái Lớn đồ ra vịnh 13 Thái Lan. Diện tích đất tự nhiên của huyện là 285,409km2. Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 19,959 ha, đơn vị hành chính gồm 10 xã, thị tran (thị trấn Minh Lương là trung tâm kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện), 3 xã giáp biển (Bình An, Vĩnh Hòa Phú và Vĩnh Hòa Hiệp), toàn huyện có 63 ấp, khu phố. Nguồn gốc, dân số dân tộc Khmer 1.
Nguén gốc, lịch sử dân tộc Khmer Căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu, các nhà nghiên cứu cho rằng, người Khmer Nam bộ và người Khmer Campuchia vốn có chung nguồn gốc. Thế nhưng do “sự biến thiên” của lịch sử, nên họ đã sống ở hai quốc gia khác nhau và cùng với quá trình tiếp biến, giao thoa văn hóa với các dân tộc khác, cũng như bởi địa thế, nghề nghiệp, quốc gia. đã góp phần làm cho sự khác biệt giữa người Khmer Nam bộ và người Khmer Campuchia ngày càng xa dần hơn. Chính vì vậy nói người Khmer Nam bộ là người Campuchia thì không đúng và nói người Khmer Campuchia khác han với người Khmer Nam bộ cũng sai.
Trong một quốc gia cũng có nơi này khác với nơi kia, nơi kia khác với nơi nọ như ngoài Trung khác với trong Nam, trong Nam khác với ngoài Bắc. Bởi địa thế từng vùng, từng địa phương đã biến mọi sinh hoạt của con người từ tiếng nói, cách ăn mặc, cách cư xử, thói quen, nếp sống. cùng trong một quốc gia, cùng một dân tộc trở thành dị biệt khác nhau. Cũng vậy, người Khmer Campuchia và người Khmer Nam bộ cũng có những di biệt đó.
Nói cách khác người Khmer Nam bộ với người Khmer Campuchia cùng một dân tộc, cùng một ngôn ngữ, nhưng mọi sinh hoạt cũng như nếp sống, nghề nghiệp. lại khác nhau. Thế thì người Khmer Nam bộ bắt nguồn từ đâu? Đó là những câu hỏi người ta thường bàn cãi. Theo ông Thạch Voi, trong cuốn “Tìm hiểu vốn văn hóa dan tộc Khmer Nam Bộ”, cho rằng, nếu vương quốc Phù Nam, Chân Lạp, theo như một số sách báo đã được công bố trước đây là 14 có thực thì phải chăng đó là tổ chức xã hội ban đầu của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long?.
Theo Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2019 của Tổng Cục thống kê, dân số Khmer có 1.652 người ở rải rác trong các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang, Vinh Long, Tra Vinh va vài chục ngàn người sống ở các tỉnh Tây Ninh, TP.Hồ Chí Minh, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Tính theo khu vực thì người Khmer ở Trung du miền núi phía Bắc có: 642 người, Đồng bằng sông Hồng có: 479 người, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có: 1.851 người, Đông Nam Bộ có: 172.477 người, Đồng bằng sông Cửu Long có: 1.241 người, trong đó dân cư tập trung đông nhất ở ba tỉnh gồm: Sóc Trăng (362.231) và Kiên Giang (211. [22] Về tín ngưỡng tôn giáo, bên cạnh theo tín ngưỡng truyền thống dân gian dân tộc thì hầu hết người Khmer (có đến 98%) theo đạo Phật hệ phái Nam Tông. Dân số, phân bỗ dân cư Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang (năm 2022), toàn huyện Châu Thành hiện có 30.286 khẩu, 813 tổ nhân dân tự quản, gồm các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm, Tày,.trong đó hộ người Kinh 15 18.579 khâu, chiếm ty lệ 61,86%; hộ dân tộc thiểu số 11.707 khẩu, chiếm tỷ lệ 38,14%, (là huyện có đồng bào dân tộc thiểu số nhiều nhất tỉnh).
Riêng dân tộc Khmer có 9.395 khâu (chiếm tỷ lệ 30,66% toàn dân trong huyện) và chiếm 21,58% so với đồng bào Khmer toàn tỉnh Kiên Giang (đứng thứ hai sau huyện Gò Quao); dân tộc Hoa 2.715 khẩu, chiếm tỷ lệ 7,08%; dân tộc khác 119 hộ, với 597 khẩu, chiếm tỷ lệ 0,39% so với số khâu toàn huyện. Đồng bào Khmer sinh sống tập trung tai 8/10 xã, thi tran. Tập trung đông nhất là xã Minh Hoà, chiếm 55,19%; thi tran Minh Lương chiếm 47,27%; xã Thạnh Lộc chiếm 40,22%; xã Bình An chiếm 36%; xã Giục Tượng chiếm 28,93%., ít nhất là xã Mong Tho A chiếm 0,62%. Có 35/63 ấp, khu phố có đông đồng bào Khmer; trong đó có 7 ấp trên 90% là người dân tộc Khmer gồm ấp Tân Hưng, Tân Lợi, (xã Giục Tượng); ấp Xà Xiêm, (xã Bình An), ấp Thạnh Hưng, Thạnh Bình, (xã Thạnh Lộc); ấp Minh Hưng, (xã Minh Hoà) và ấp Vĩnh Đằng (xã Vĩnh Hoà Phú).
Về cư trú, người Khmer sống đan xen với người Kinh và người Hoa nhưng cũng hình thành từng cụm lớn, nhỏ tương đối rõ rệt. Mặc du cũng có khá đông người Khmer sinh sống dọc theo trục Quốc lộ, các khu chợ, khu cảng cá Tắc Cậu và khu công nghiệp, nhưng phần lớn bà con vẫn tập trung cư trú nhiều ven kênh rạch, vùng sâu, vùng đất bị nhiễm phèn, vùng thường ảnh hưởng lũ lụt, nhất là khu căn cứ kháng chiến cũ và xa trục giao thông. Người Khmer chủ yếu theo đạo Phật hệ phái Nam tông, tôn trọng sư sãi, sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế và mức hưởng thụ văn hóa cũng như điều kiện sinh sống, ha tang cơ sở vùng đồng bào Khmer nhìn chung còn thấp. Người Khmer sống định cư rất sớm, họ không sống du canh, đu cư như một số dân tộc khác.
Họ tập hợp nhau lại thành những tập thể láng giềng nhỏ. Mỗi tập thể định cư trên một địa điểm bám sát đất trồng trọt gọi là “phum”, 16 đơn vị cao hơn phum gọi là “srôc”. Chúng ta có thể hiểu rằng một phum của người Khmer tương đương với một ấp và srôc tương đương với làng. Riêng xã Thạnh Lộc được thành lập từ tháng 4 năm 1994, nằm về phía Tây huyện Châu Thành.
Huyện Châu Thành có phía Đông và phía Bắc giáp xã Long Thanh và Bàn Tân Định của huyện Giồng Riéng, phía Nam giáp xã Thới Quản huyện Gò Quao. Thạnh Lộc là xã thuộc vùng sâu, vùng dân tộc Khmer, là khu căn cứ cách mạng, toàn xã có tổng diện tích tự nhiên là: 4.638ha, trong đó đất trồng lúa: 3.450ha, trồng khóm: 504ha, còn lại là đất vườn tạp và đất thô cư. Dân số toàn xã Thạnh Lộc có 3,291 hộ với 17.137 khẩu, trong đó dân tộc Khmer có 1.386 khẩu, chiếm tỷ lệ 54,89% dân số toàn xã. Xã Thạnh Lộc hiện tại có 7 ấp, gồm ấp Hoà Lộc, Hoà Lợi, Hoà Phước, Thạnh Bình, Thạnh Hoà, Thạnh Hưng, Thạnh Yên.
Xã cũng có 01 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer là chùa Tà Bết, xây dựng từ năm 1640, trải qua 18 đời trụ trì, tọa lạc tại ấp Thạnh Bình. Nếu xét trên địa bàn toàn huyện, thì huyện Châu Thành có tat cả 13 ngôi chùa Khmer và một ngôi tháp thờ 4 vi sư liệt sĩ, được phân bố tại các xã, thị tran như sau: thị trấn Minh Lương có 4 chùa va | tháp 4 sư liệt sĩ; xã Minh Hòa có 4 chùa; xã Bình An có 2 chùa; xã Mong Thọ B có 01 chùa; xã Giục Tượng có 01 chùa và xã Thạnh lộc có 01 chùa. Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Khmer ở Kiên Giang 1. Về Kinh tế - xã hội Người Khmer từ xa xưa đã biết khai hoang đất trũng rồi đấp bờ bao chung quanh để trồng lúa nước.
Người Khmer sớm biết khai thông thủy lợi, Ì Hiện nay nhiều người dich từ tiếng Việt sang tiếng Khmer dé sử dụng gồm: ấp = phum, khu phố = ak-nuk soóng-kăt; xã = khum, phường = soóng-kăt; huyện = srôc, quận = khăn, thị xã = ti ruôm sróc, thành phd (thuộc tinh) = krông: tỉnh = kheêt, thành phó (thuộc TW) = ti krông). 17 nhất là ở gần sông rạch, người Khmer lợi dụng khi thủy triều lên đưa nước vào ruộng. Đến kỳ hạn khi lúa sắp lên đồng thi phá đập ra, x6 phèn, bắt cá xong, lại nhân thủy triều lên mà đắp lại lần nữa để chứa nước sông ăm ắp phù sa trồng trọt. Ở xa sông rạch, người Khmer đắp bờ thành 6 dé giữ nước mưa, khi cần thì tát nước vào ô bằng gầu sòng.
Ngoài ra còn đúc kết được nhiều kinh nghiệm, cách khai thác nghề nông, như sáng chế các dụng cụ cày bừa, quan niệm giữa mối tương quan giữa các giống lúa (lúa nước ngọt, lúa nước lợ, lúa dài hạn, lúa ngắn hạn, lúa mùa.) và các loại đất đều được người Khmer thông suốt trong quá trình canh tác và cải tạo. Đây là phát minh độc đáo của người Khmer xưa dựa trên cơ sở những điều kiện địa lý cụ thể.