CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ TỤC NGỮ KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Khái quát về dân tộc Khmer ở ĐBSCL 1. Sự hình thành tộc người Người Khmer ở ĐBSCL và người Khmer Campuchia là cùng một nguồn gốc chủng tộc, nhưng do biến động của lịch sử, từ lâu họ đã là những tộc người của hai quốc gia. Có nhiều tài liệu nói về nguồn gốc của tộc người Khmer ở ĐBSCL, trong đó, có hai nguồn tài liệu là của tác giả Lê Hương với “Người Việt gốc Miên”, Nxb Sài Gòn - 1969 và Trường Lưu với “Văn hóa người Khmer vùng ĐBSCL, Nxb Văn hóa dân tộc - 1993.
Hai tác giả này cùng ghi nhận rằng: người Khmer ở ĐBSCL đã trải qua các chặng đường lịch sử như sau: - Giai đoạn thứ nhất: Người Khmer ở ĐBSCL và người Khmer Campuchia cùng chung sống trong cộng đồng vương quốc Phù Nam (từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ V). - Giai đoạn thứ hai: Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ XVIII, người Khmer ĐBSCL và người Khmer Campuchia cùng chung sống trong cộng đồng Chenla (Campuchia hoặc Chân Lạp). Có lẽ, cách phân chia như trên chỉ mang tính chất tương đối. Cuộc sống có nhiều biến động thì bắt buộc con người phải tìm cách sinh tồn, nên sự di dân (lúc đầu tạm thời và lâu dần chuyển sang cố định) từ quốc gia này sang quốc gia kia cũng là lẽ đương nhiên.
Và đấy chính là trường hợp của ĐBSCL. Tây Nam Bộ hay còn gọi là ĐBSCL trước kia có các tên gọi như “Thủy chân lạp” (từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ VIII), “Miền Nam Việt Nam” (năm 1658 đến 1867), “Nam Kỳ” ( từ 1868 đến 1954) [31, 25], là vùng đất chịu nhiều đau thương tang tóc, là vùng đất chứng kiến bao cuộc bể dâu, và cũng là miền cuối trời Nam hứng chịu nhiều mưa bom lửa đạn của chiến tranh. Vậy nên, các thế hệ người Khmer ở đấy cũng nếm trải biết bao biến động, thăng trầm của thời đại. Họ chịu nhiều đắng cay, khổ cực của cuộc sống.
Điều dễ dàng nhận ra do đâu mà họ vẫn lạc quan vẫn bám đất và phum sóc của mình, đó là nhờ họ có niềm tin vững bền vào chân lý cuộc đời “ở hiền gặp lành” hoặc “hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Mặt khác, còn nhờ vào sức mạnh của Phật pháp đã giúp cho người Khmer ĐBSCL có thêm niềm tin, nghị lực trong cuộc sống. Họ tiếp tục dâng cho đời những hoa thơm, quả ngọt. 11 Từ thế kỷ XIX đến nay, tuy sống ở mỗi quốc gia riêng biệt nhưng người Khmer ĐBSCL và người Khmer Campuchia vẫn có sự giao lưu qua lại trên nhiều lĩnh vực trong đời sống.
Sự giao lưu đó diễn ra theo cả hai chiều: nông dân Khmer, sau khi định cư lại Campuchia, đã đem vào môi trường mới một số kỹ thuật canh tác của ĐBSCL, cả hình thức ca kịch Dù kê, vốn có nguồn gốc từ ĐBSCL. Ngược lại, Campuchia truyền về cho ĐBSCL điệu múa cung đình, Lâm Thôn. Ngoài ra, các sách xuất bản tại Campuchia như sách tôn giáo, tiểu thuyết lãng mạn, phim ảnh, ca khúc mới. cũng được truyền bá trong đời sống của người Khmer ĐBSCL.
Trong cuốn “Vấn đề dân tộc ở ĐBSCL” do Mạc Đường chủ biên cũng ghi nhận rằng: người Khmer ở ĐBSCL và người Khmer Campuchia cùng chung một chủng tộc. Từ thế kỷ XV trở đi, đế chế Angkor sụp đổ người dân Campuchia rơi vào cảnh nghèo đói và bị đàn áp nặng nề bởi bọn phong kiến Thái Lan. Vì vậy, những người Khmer yêu nước đứng lên chống phong kiến Thái Lan đã xuôi theo dòng sông Cửu Long đến với ĐBSCL khai khẩn đất hoang và định cư lâu dài. “Cho đến trước thế kỷ XVII, người Khmer là thành phần cư dân duy nhất tồn tại ở ĐBSCL.
Họ sống khu biệt và không có mối quan hệ hành chính với bất cứ một quốc gia nào thời đó” [16, 30]. Như vậy, người Khmer ở ĐBSCL với người Khmer ở Campuchia là những người đồng tộc có chung lịch sử, tiếng nói, tôn giáo. Nhưng do sống tách biệt lâu dài với người Khmer ở Campuchia, người Khmer ở ĐBSCL có những đặc điểm riêng về cư trú, kinh tế, văn hóa, xã hội. Sống trong cùng lãnh thổ với người Việt nhưng người Khmer ĐBSCL có tập quán cư trú, sản xuất riêng không lẫn với các dân tộc khác.
Điều đó được thể hiện qua đặc điểm tâm lý và quan điểm về môi trường thiên nhiên, xã hội của họ quy định. Đặc điểm cư trú, sản xuất và hình thái xã hội Về nơi cư trú, người Khmer thường chọn vùng đất cao để định cư, cất nhà. Người Khmer không thể trụ được ở vùng đất thấp. Họ tìm những nơi cao ráo trên những giồng, gò nhằm chống chọi với nắng, gió phương Nam.
Về nhà ở, họ chọn hình thức cất nhà trên mặt sàn được kê trên những đầu trụ cột, vừa tránh lũ của sông Mêkông chảy về, vừa tránh thú dữ ở những vùng cây cối rậm rạp. Người Khmer ĐBSCL sống chủ yếu bằng nghề ruộng rẫy, một số ít làm nghề thủ công, buôn bán hoặc làm các ngành nghề khác như: công nhân, viên chức, giáo viên, nghệ sĩ. 12 ở các cơ quan, chính quyền, đoàn thể. Người Khmer lập cư rất sớm trên ĐBSCL.
Từ xa xưa, họ đã biết trồng lúa nước, chẳng hạn như: ở gần sông rạch, họ biết lợi dụng thủy triều để rửa phèn cho ruộng; ở xa sông rạch, họ đắp bờ thành ô để giữ nước mưa khi cần thì tát nước vào ô bằng gầu dai, gầu sòng. Người Khmer ở ĐBSCL cư trú thành những cụm rời rạc, nhỏ là một ấp, lớn là vài xã xen kẽ với các xã, ấp của người Việt và Hoa. Họ sống tập trung ở một số tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Theo số liệu của Vụ địa phương III - Ủy ban Dân tộc, năm 2009, “tổng số dân Khmer ở ĐBSCL là 1.695 người gồm: Trà Vinh 304.848 người, Sóc Trăng: 373.595 người, Vĩnh Long: 21.820 người, Bạc Liêu: 67.535 người, An Giang: 90.271 người, Kiên Giang: 214.979 người, Hậu Giang: 26.992 người, Cà Mau: 40.012 người, thành phố Cần Thơ: 22.
Về hình thái xã hội, người Khmer ở ĐBSCL có tập quán hợp nhau lại thành những tập thể xóm nhỏ, mỗi tập thể định cư trên một địa điểm bám sát nơi trồng trọt và làm ruộng gọi là “phum”. Đơn vị cao hơn phum, và bao gồm nhiều phum gọi là “Srok” (sóc). Trong quá trình cùng cư trú với người Việt, đôi khi có sự đồng nhất qua lại, chẳng hạn: có lúc người ta đồng nhất phum Khmer với ấp của người Việt, và sóc với xã; ngược lại, người Việt chung sống với người Khmer lại Việt hóa từ Khmer “phum srok” thành “phum sóc”, để chỉ nơi cư trú của người Khmer. Dù sống xen kẽ với tộc người khác, có quan hệ qua lại với người Việt và người Hoa trong nhiều thế kỷ, nhưng nhờ khuôn khổ phum sóc, từng người Khmer đã sinh ra, lớn lên, làm ăn, hoạt động trong khung văn hóa tộc người của mình.
Người Khmer có tập quán hợp tác lao động “yook đai” (vần công đổi công) và có nhiều lễ nghi trong nông nghiệp, nhằm cầu nguyện cho mùa mưa mau tới, cho các vụ lúa bội thu. Tín ngưỡng, tôn giáo Lịch sử phát triển của chế độ phong kiến Khmer ở Campuchia diễn ra đồng thời với việc du nhập các trào lưu văn hóa, tôn giáo Ấn Độ. Người Khmer Campuchia cũng như người Khmer ở ĐBSCL đã tôn thờ các vị thần Bà La Môn trước khi theo Phật giáo như ngày nay. Hiện nay, những ảnh hưởng của Bà La Môn vẫn còn tồn tại trong đời sống của người Khmer: phong tục thờ cúng, cưới hỏi, tang ma,.
và trong các dịp lễ, tết. Do cuộc sống xưa kia hoang vu tiềm ẩn nhiều thế lực siêu nhiên còn nhiều điều chưa thể lý giải nên người Khmer tìm đến các lực lượng thần linh. Trong đời sống hằng ngày của họ, các vị thần ấy có vai trò như là những đấng cứu tinh, có vị trí độc tôn và không thể thay thế. 13 Từ thời khai thiên lập địa đến nay, tín ngưỡng dân gian có vai trò rất quan trọng trong đời sống cộng đồng Khmer ĐBSCL.
Một trong những tín ngưỡng còn lưu lại là sự thờ cúng ông Tà (Neak Tà). Người Khmer ở ĐBSCL thờ ông Tà như là một vị thần nhưng căn cứ vào nhiều nguồn gốc hơn. Trước hết ông Tà là vị thần của tạo vật mà người ta thấy nhiều ở các miếu thờ, chẳng hạn: Neak Tà Tức (Thần Nước), Neak Tà Phnum (Thần Núi), Neak Tà Prey (Thần Rừng), Neak Tà Srê (Thần Ruộng), Neak Tà Prek (Thần Sông), Neak Tà Đam Pô (ông Tà Cây đa), Neak Tà Popus (ông Tà Bọt nước), Neak Tà Krepoum Chhuk (ông Tà Gương sen). Ngoài ra, người Khmer còn có Neak Tà thuộc địa thế (trần thế) và Neak Tà thuộc sự tích địa phương như: Neak Tà Bến đò, Neak Tà Bãi Xàu, Neak Tà Xóm, Neak Tà Chùa,.
Tiếp theo là sự thờ cúng Arak, cùng với việc thờ cúng ông Tà, người Khmer ở ĐBSCL còn thờ một vị thần nữa gọi là Arak. Arak vừa là ma quỷ, vừa là vị thần hộ mệnh. Với ý niệm là thần bảo hộ, người Khmer có Arak bảo hộ nhà (Arak Fteh), bảo hộ gia đình (Arak Phtan), bảo hộ một khu đất (Arak Phum), bảo hộ ruộng rẫy (Arak Veal), hay trấn giữ rừng (Arak Prei). Mỗi dòng họ, mỗi phum thờ một Arak riêng, các Arak này phù hộ cho gia đình, cho đồng ruộng, xóm làng của người Khmer chống lại ma quỷ quấy phá và giúp dân làm ăn yên ổn.
Sau cùng là tín ngưỡng hồn lúa. Người Khmer quan niệm cây lúa cũng giống như người phụ nữ: có thời con gái, có lúc đẻ con,… Hình tượng nữ thần lúa là một người đàn bà cưỡi trên mình con cá chép, tay cầm nhánh lúa. Phần nhiều tên các giống lúa đều được gọi bắt đầu bằng chữ nàng (neang) như nàng đen, nàng lép, nàng cho,… Đồng bào Khmer còn tin lúa có mười chín hồn. Trước khi gặt, họ phải làm lễ cúng gọi hồn lúa về nhà.
Sau khi gặt về, lúa phải được đổ vào bồ lúa và đậy kỹ để hồn lúa khỏi bay đi nơi khác (điều này được phản ánh rõ trong câu chuyện dân gian Khmer “Cá thác lác đi xin lúa”). Và theo tục lệ, bao giờ họ cũng lưu lại bồ lúa một ít để hồn lúa không biến mất, mùa màng vụ sau thu hoạch sẽ có hiệu quả. Về phương diện tâm linh, trong tiềm thức người Khmer ĐBSCL luôn luôn tôn kính và thờ phụng các vị thần có phép thuật phi thường để bảo vệ cũng như cứu độ lúc gặp khó khăn hoạn nạn. Họ đã có một thời kỳ theo đạo Bà La Môn.