Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ, VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở MAI CHÂU Mai Châu là một huyện vùng cao, nằm ở phía tây bắc tỉnh Hoà Bình, có tọa độ địa lý 20o24’ - 20o45’ vĩ bắc và 104o31’ - 105o16’ kinh đông; phía đông giáp huyện Đà Bắc và huyện Tân Lạc (Hòa Bình), phía tây và phía nam giáp huyện Quan Hóa (Thanh Hóa), phía bắc giáp huyện Mộc Châu (Sơn La). Toàn huyện có 23 xã và thị trấn với diện tích là 564,54 km², dân số tính đến năm 2014 là 53.944 người; trong đó dân tộc Thái chiếm đa số với 60,2%; dân tộc Mường chiếm 15,1%; dân tộc Kinh chiếm 15,6%; dân tộc Mông chiếm 7,0%; dân tộc Dao chiếm 2,1%, còn lại là đồng bào các dân tộc khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Mai Châu vốn là một trong năm châu của phủ Chợ Bờ khi thành lập tỉnh Mường, tiền thân của tỉnh Hòa Bình (năm 1886). Đến năm 1892, Mai Châu là một trong năm châu của Hòa Bình.
Trong kháng chiến chống Pháp, Mai Châu thuộc phần phía nam sông Đà của huyện Mai Đà, thuộc Liên khu Việt Bắc. Ngày 21 tháng 9 năm 1956, huyện Mai Đà chia làm hai huyện Đà Bắc và Mai Châu. Mai Châu có địa hình khá phức tạp với hai vùng cơ bản, vùng cao giống như một vành đai bao quanh vùng thấp, có nhiều dãy núi cao và hiểm trở. Hệ thống sông, suối khá dày đặc với hai con sông lớn chảy qua là sông Đà và sông Mã cùng nhiều suối lớn là nguồn cung cấp nước phong phú phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Được thiên nhiên ưu đãi, cảnh quan môi trường ở Mai Châu rất đẹp, với núi non hùng vĩ, thảm rừng được bảo vệ luôn giữ màu xanh tươi. Mai Châu từ lâu đã nổi tiếng với những di tích, danh thắng là điểm thu hút đông đảo khách du lịch như hang Chiều, hang Khoài, bản Lác (xã Chiềng Châu), bản Bước (xã Xăm Khoè), xóm Hang Kia (xã Hang Kia). Sơ lược về quá trình di cư và lập đất của dân tộc Thái ở Mai Châu Người Thái Việt Nam nằm trong cộng đồng ngôn ngữ dòng Nam Á, bao gồm nhiều ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm, với những tên gọi khác nhau tuỳ theo từng địa phương. Tuy vậy, rõ rệt và quen thuộc hơn cả là cách gọi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo sự phân chia của chính người Thái, đó là hai ngành: Thái trắng và Thái đen (Tày Đón và Tày Đăm).
Những ngành Thái ở Việt Nam đều chung một gốc với các nhóm Thái ở nam Trung Hoa, Lào, Thái Lan và Miến Điện. Có thể nói rằng tổ tiên người Thái xưa bắt nguồn từ nhóm Thái Bách Việt, trong khối ngôn ngữ tiền Thái, sinh tụ ở miền đông nam Trung Hoa và đông bắc Việt Nam. Ở đây, họ đã tiếp thu được việc thuần dưỡng lúa từ tổ tiên người Tạng - Miến, đưa cây lúa thành cây lương thực chính và tạo nên một nền văn minh lúa nước độc đáo trong vùng. Đến thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, do bị sức ép của các thế lực chính trị người Hán, một bộ phận tổ tiên người Thái cổ tách rời khỏi đồng tộc của mình phía đông, thiên di nhiều đợt theo hướng tây nam và nam, vào miền nam tỉnh Vân Nam và miền tây Đông Dương, dọc theo các con sông lớn và các chi nhánh của nó đổ xuống châu thổ miền Đông Nam Á.
Đến những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, người Thái cũng đã lập được một loạt các tiểu quốc ở miền thượng Đông Dương, thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu sử, dân tộc học đã khẳng định, từ đời Đường, tổ tiên người Thái ngành phía tây, trong đó có Tây Bắc Việt Nam, đã đến cư trú ở vùng này. Điều đó được chứng minh từ chính sử Trung Quốc, từ sự hỗ trợ của các nguồn tài liệu biên niên sử chép tay; các truyền thuyết lưu hành trong nhân dân ở Tây Bắc Việt Nam, Lào, Mianma, Thái Lan. Ở Việt Nam, sau đợt thiên di này, cư dân người Thái chưa nhiều.
Phải đến những thế kỷ của cuối thiên niên kỷ I hay đầu thiên niên kỷ II sau Công nguyên, các nhóm Thái ở Vân Nam mới lớn mạnh lên và bắt đầu những cuộc thiên di lớn xuống phía nam. Chúa đất Thái đen là Lạng Chượng, từ mường Lò (nay thuộc Nghĩa Lộ - Yên Bái), tràn ra đánh chiếm toàn bộ miền Tây Bắc Việt Nam. Khi Lạng Chượng đến các vùng đã gặp các tù trưởng Thái Trắng có mặt sớm hơn. Quá trình thiên di và định cư của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình được ghi chép lại trong một cuốn sử biên niên tìm thấy ở Chiềng Hạ (xã Mai Hạ - huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình).
Đây là một cuốn gia phả của dòng họ Hà Công được các thế hệ ghi chép liên tục từ ngày đến mở đất sinh cư (khoảng cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV) và dừng lại năm 1945 khi xảy ra Cách mạng tháng tám năm 1945. Cuốn gia phả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn công bố trong cuốn "Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái" do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1977. Kết hợp với những thông tin ít ỏi trong sử liệu Việt Nam, ta thấy được tổ tiên của người Thái ở Mai Châu từ miền đầu nguồn sông Hồng, vùng đất Mường Hước, Pước Khà (bây giờ thuộc huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai) thiên di dọc sông Hồng, đế n ngã ba Hồ ng Đà thì rẽ sang sông Đà rồi tới lập nghiệp ở Mường Xang (bây giờ thuộc huyện Mộc Châu - tỉnh Sơn La), Mường Khoòng (bây giờ thuộc huyện Bá Thước - tỉnh Thanh Hoá) và Mường Mùn (bây giờ thuộc huyện Mai Châu - tỉnh Hoà Bình) từ cách ngày nay ngót 700 năm. Cuộc thiên di của người Thái đến Mai Châu và quan hệ giữa ba nhóm Thái Mai Châu, Mộc Châu, Bá Thước còn được truyền thuyết hoá lưu truyền trong dân gian, không những ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Sơn La… mà còn phổ biến ở vùng Lào Cai.
Theo biên niên sử của dòng họ Hà Công, người Thái đến Mường Mùn phải gian nan vất vả khai khẩn đất đai, một quá trình kéo dài hàng chục đời người mới xây đắp nên ruộng đồng, mường bản để lại cho con cháu cho đến ngày nay. Cũng như các bộ phận Thái khác, các chúa đất Thái ở Mai Châu đến lập nghiệp cho đến tận ngày nay đều thần phục triều đình và đã cùng các tộc người khác tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương. Đến đầu thời Lê, mường Mai đươ ̣c triề u điǹ h đặt tên là Châu Mai và là một trung tâm chính tri ̣ trong vùng, người đứng đầ u mường đươ ̣c giao cai quản người Thái ở một vùng rộng lớn gồ m Sơn La, Hòa Biǹ h, Thanh Hóa. Có thể nói rằ ng: dân tô ̣c Thái Mai Châu đã có những đóng góp quan tro ̣ng trong việc khai phá, mở mang đất đai, xây dựng mô ̣t quê hương Mai Châu giàu đe ̣p ngày nay.
Khái quát về văn hóa của người Thái ở Mai Châu 1. Văn nghê ̣ dân gian Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, đồng bào Thái ở Mai Châu - Hòa Bình nói riêng và ở Tây Bắc nói chung đã sáng tạo ra nền văn hoá văn nghệ dân gian đa dạng phong phú đậm đà bản sắc dân tộc, tiêu biểu là các giá trị văn hóa nghệ thuật. Chúng ta không thể không nói đến “Xển mo”, “Khắp một lao”, “Khắp sư”, “Khắp báo sao” và các làn điệu múa dân gian. “Khắp sư”, “Khắp báo sao” có nghĩa là đọc, là ngâm, là hát những bài hát dân gian của dân tộc.
Trong sản xuất, đời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống sinh hoạt, hát (người Thái gọi là khắp) đối với họ không thể thiếu được. Người ta tự hát một mình hoặc hát cho mọi người nghe một cách say sưa. Trước đây đã có những cuộc hát kéo dài hai, ba ngày đêm. Qua hát người ta không những thưởng thức thi vị của ý thơ mà còn gửi gắm tâm tư, tình cảm vào những âm thanh trầm bổng của giọng hát.
Hễ có thơ là người ta có thể hát ngay theo một lối hát cho hợp với thể loại. Đó chính là các làn điệu khắp biểu hiện bằng lối hát thơ thích hợp của từng vùng. Cũng là truyện thơ, nhưng khi hát làn điệu khác nhau hoàn toàn. Không bao giờ hát sử thi “Táy pú xắc” như hát anh hùng ca “Chương Han”; người ta cũng không hát “Phanh mương” (Kể chuyện dựng bản mường) như hát truyện thơ “Chàng Lú, Nàng Ủa”.
Lại cũng có thể có hai lối hát cho cùng một tác phẩm thơ. Truyện thơ “Sống chụ xon sao” khi nhàn rỗi ngâm nga thì phải theo làn điệu “Khắp sư”, khi hát ở các bữa tiệc cưới thì phải theo làn điệu “Khắp báo sao”. Hát có kèm theo nhạc khí, chiêng trống tăng thêm không khí rạo rực, sôi nổi hoặc lâm ly thống thiết. Có thể nói, những giá trị văn hoá tinh thần phong phú đa dạng của dân tộc Thái tràn đầy sức sống.
Lễ hội Xên Bản, Xên Mường Đã từ lâu, các lễ hội Xên Bản, Xên Mường trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Thái Mai Châu - Hòa Bình. Theo sử sách của người Thái cổ và truyền thuyết còn lưu đến ngày nay, lễ hội Xên Mường là tổ chức cho cả huyện, Xên Bản tổ chức ở làng xã. Lễ hội thể hiện tấm lòng tôn kính tri ân của nhân dân tưởng nhớ công lao to lớn của các vị nhân thần tiền bối và cầu cho quốc thái, dân an, bản mường no ấm, quanh năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc, đất nước vinh hoa phồn thịnh… Cỗ cúng thường gồm ba mâm nhưng phải đảm bảo có thịt trâu chín, gạo và rượu. Ông mo khấn bảy lần, mời các vị thần, tổ tiên về dự lễ và phù hộ cho dân bản được ấm no, sung túc, cuộc sống an vui.
Trong những ngày lễ hội đồng bào có phong tục kiêng không được giã gạo, làm nhà, xẻ gỗ, vào rừng lấy củi, săn bắt, hái lượm.