Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA TÀY VÀ TRUYỆN THƠ NÔM LƯU TƯƠNG 1. Khái quát về văn hóa Tày 1. Đặc điểm tự nhiên Dân tộc Tày là dân tộc có số dân đông đứng ở vị trí thứ hai, thứ ba sau dân tộc Kinh (dân tộc Việt), là cư dân bản địa, giữ vai trò chủ thể từ nhiều ngàn năm nay ở khu vực Đông Bắc Việt Nam. Đồng bào Tày được phân bố ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu nhất ở các tỉnh thuộc Việt Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, kể cả vùng ngoại vi tiếp giáp với các tỉnh trên.
Sống ở địa bàn chiến lược quan trọng, vùng biên giới, ngoài việc xây dựng và bảo tồn các yếu tố văn hóa truyền thống trong sáng, lành mạnh, mang tính đặc trưng của dân tộc, đồng bào Tày cũng đã sớm tự ý thức được sự sinh tồn và phát triển của mình. Dựng cờ xướng nghĩa, chống áp bức, chống ngoại xâm, bảo vệ biên cương Tổ quốc trở thành truyền thống quý báu của dân tộc. Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, dân tộc Tày đã sớm hòa nhập vào khối cộng đồng thống nhất quốc gia dân tộc Việt Nam để cùng nhau trường tồn, giữ gìn bảo vệ non sông gấm vóc đất nước. Đồng bào Tày chủ yếu cư trú ở vùng Việt Bắc, đây là địa bàn có điều kiện tự nhiên khá đa dạng và phong phú.
Là vùng núi, nơi có những cánh rừng bạt ngàn bao phủ, cung cấp cho người dân nhiều nguồn lợi như gỗ để xây dựng nhà cửa, là nguồn lương thực phong phú như măng, nấm hương, mộc nhĩ, củ mài, mật ong, các loại rau rừng… Ngoài ra Việt Bắc còn có rất nhiều chim muông, thú quý. Tất cả đã làm phong phú thêm cho nền kinh tế tự cung tự cấp, cải thiện đời sống của con ngươi nơi đây. Là vùng núi nhưng Việt Bắc còn được bao bọc bởi nhiều sông, suối, ao, hồ. Ta có thể kể đến các con sông lớn như sông Cầu, sông Kì Cùng, sông Thương, sông Lô, sông Bằng Giang,… Chính những con sông này đã cung cấp nguồn nước 12 phục vụ cho nông nghiệp, cung cấp lượng tôm, cá dồi dào.
Hơn nữa, đây còn là những danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã tạo nhiều cảm hứng cho các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ sáng tác, sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật. Nằm trên vùng núi Việt Bắc nên vùng đồng bào Tày giàu đẹp, có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp và chăn nuôi, có nhiều lâm thổ sản quý giá và những nguồn lợi vô tận về khoáng sản như thiếc, kẽm, boxit, đồng, vàng, apatit,… Ngoài ra, ở vùng này khí hậu, đất đai khá phong phú tạo nên sự đa dạng về thực vật và động vật, hình thành nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Nhờ sự đa dạng, phong phú của điều kiện tự nhiên, hơn nữa vùng Việt Bắc lại tiếp giáp với đất nước Trung Quốc nơi có nền văn hóa lâu đời bởi vậy người Tày cũng có điều kiện tiếp xúc với sự đa dạng của các nền văn hóa khác nhau. Dân tộc Tày đã xây dựng nên nền văn hóa truyền thống mang đặc trưng tộc người và đặc trưng miền núi sâu sắc, làm đa dạng và phong phú nền văn hóa truyền thống Việt Nam.
Đặc điểm văn hóa - xã hội 1. Văn hóa vật chất Văn hóa vật chất là toàn bộ cơ sở vật chất được sử dụng trong cuộc sống, được xem như một nhu cầu của cuộc sống do chính con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn. Trong văn hóa vật chất, nhà cửa là đề tài quan trọng và phức tạp nhất. Bởi lẽ nó là một tổ hợp về sinh hoạt văn hóa của cư dân.
Nhìn chung nhà của dân tộc Tày chủ yếu là nhà sàn. Nhà sàn của dân tộc Tày chủ yếu gồm ba bộ phận chính: nóc, sườn và tường vách. Sườn và nóc là hai bộ phận liên kết với nhau tạo thành ngôi nhà. Bộ phận sườn ngôi nhà không những là bộ phận quan trọng mà nó còn thể hiện kết cấu về trình độ kỹ thuật, những đặc điểm địa phương dân tộc người và sự chuyển biến của các kiểu dạng trong lịch sử.
Bộ sườn của ngôi nhà bao gồm các vì kèo. Mỗi một vì kèo, chúng ta biết được các kiểu dạng của nhà. Đồng bào Tày cũng phân loại nhà sàn dân gian theo hàng cột và đặt cho mỗi một kiểu dạng một cái tên, phản ánh trình độ phát triển của từng kiểu dạng như: kiểu vì bốn và sáu hàng cột, kiểu vì năm và kiểu vì sáu hàng cột… 13 Quá trình chuyển biến của các kiểu dạng đó của ngôi nhà gắn liền với quá trình chuyển biến trong đời sống kinh tế xã hội của đồng bào. Tuy nhiên tùy thuộc vào những đặc điểm có tính đặc trưng tộc người ở các địa phương mà các ngôi nhà được xây dựng theo những đặc trưng riêng biệt theo những quan điểm thẩm mĩ của từng vùng.
Trong ngôi nhà sàn, từ cách bố trí không gian thờ cúng tổ tiên, nơi tiếp khách, bếp núc cho tới buồng ngủ của mỗi thành viên trong gia đình đều thể hiện rõ phong tục, tập quán, nền nếp của đồng bào Tày. Bên cạnh nhà cửa thì trang phục chính là một yếu tố tạo nên vẻ đẹp văn hóa đặc sắc cho dân tộc Tày, bởi trang phục chính là một hiện tượng lịch sử. Nó phản ánh điều kiện sản xuất, trình độ phát triển, kinh tế xã hội, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc và những tác động của môi trường sinh sống, sự trao đổi, tiếp thu các yếu tố trong khu vực lịch sử văn hóa. Trang phục đầu tiên của người Tày là khố và váy (đàn ông dùng khố, đàn bà dùng váy).
Cùng với khố và váy thì áo ra đời đánh dấu bước phát triển quan trọng về trang phục. Với người Tày, áo là nơi chứa đựng linh hồn sống của con người. Mỗi khi đau ốm, áo người ốm được đem đi xem bói hoặc để cúng, người Tày gọi là “slửa khoăn” (áo linh hồn). Một thời gian sau, đàn ông Tày cũng dần vứt bỏ khố và chuyển sang dùng quần.
Đó là chiếc quần lửng hay còn gọi là quần cộc, dài tới đầu gối, hay quá một chút ít. Quần lửng bằng vải dệt màu trắng hay nhuộm chàm, cách đây vài chục năm trở về trước rất thịnh hành trong giới đàn ông người Tày, nay lác đác vẫn còn. Ngày nay, ở người Tày phụ nữ vẫn còn mặc váy dài, áo ngắn hoặc dài đến đầu gối, thắt lưng ngoài áo, đầu chít khăn, vai quàng khăn, đeo đồ trang sức ở tay, cổ, tai… Với nam giới thì mặc áo ngắn, quần cộc, đầu quấn khăn, lưng đeo dao hoặc kiếm. Đó cũng là những trang phục rất ấn tượng và đẹp mắt khác xa hoàn toàn các trang phục của các dân tộc khác.
Ngày nay, trang phục truyền thống Tày vẫn phổ biến nhất là trong các ngày lễ cổ truyền, trong ngày thường, họ mặc trang phục gần như người Kinh. Điều đó, chứng tỏ rằng: cùng với sự phát triển của kinh tế thì hiện nay về trang phục của người Tày cũng có xu thế hội nhập. Giờ đây người Tày đã dần thay đổi trang phục truyền thống bằng những bộ quần áo tiện dụng hơn. Chính vì vậy, việc giữ gìn trang phục của người Tày là điều hết sức quan trọng và cần thiết.
14 Văn hóa vật chất của đồng bào Tày còn thể hiện trong vấn đề ẩm thực. Nguồn lương thực chính là những sản vật tự nhiên, tự cung tự cấp: gạo, ngô, khoai, sắn, tôm, cá,… hoặc các loài gia súc, gia cầm như: trâu, bò, gà, vịt… Người Tày có hai hình thức tổ chức ăn uống là ăn uống thường ngày và ăn uống vào dịp lễ tết. Tết lớn nhất trong năm là tết tháng Giêng (tết Nguyên Đán) thường có những món ăn truyền thống như: bánh gio (pẻng đắng), bánh bỏng (khẩu sli), chè lam, bánh chưng. Tiếp đến là tết Thanh minh (tảo mộ) vào ngày mồng ba tháng ba âm lịch.
Món ăn chủ yếu trong tết này là xôi đỏ đen được làm bằng lá cẩm, bánh lá ngải, bánh trứng kiến, thịt gà, thịt vịt… Đến tháng năm âm lịch là tết Đoan ngọ, món ăn là bánh gio, rượu nếp… Tết lớn thứ hai trong năm là người Tày coi trọng là tết Rằm tháng bảy. Đầy không chỉ là ngày xá tội vong nhân, thờ cúng tổ tiên mà còn là ngày gia đình, dòng họ đoàn tụ, sum họp; con cái thể hiện lòng biết ơn, tình cảm hiếu thuận đối với cha mẹ… Ngày này, họ thường ăn các món vịt quay, lợn quay lá mác mật, bánh củ chuối, bánh gai… Văn hóa dân tộc Tày chịu ảnh hưởng của các tộc lân cận như Hoa, Việt. Qua quá trình lịch sử, đặc biệt trong thời kì tự chủ, triều đình có quan tâm đến việc học hành của cư dân Tày. Nhà Mạc khi chạy lên đóng đô ở Cao Bằng, ra sức đào tạo tầng lớp nho sĩ.
Quan lại người Việt chạy lên đây bị Tày hóa. Do vậy tầng lớp trí thức nho học Tày hình thành, văn hóa Việt đã ảnh hưởng lớn tới văn hóa Tày. Tam giáo được cư dân Tày tiếp thu gần giống với người Việt, nhưng ở mức độ thấp, trong sự kết hợp với các tín ngưỡng vật linh vốn có từ lâu đời trong dân gian. Việc chế biến món ăn một mặt có những sáng tạo, một mặt tiếp thu từ kĩ thuật chế biến của tộc người Hoa, Việt.
Họ chế biến ngô một cách tinh tế. Thức ăn chính là gạo tẻ nhưng việc chế biến các món ăn từ gạo nếp lại càng được chú trọng. Trong ngày tết cốm, các loại xôi màu là món ăn hấp dẫn. Thịt lợn, vịt quay thường được làm cầu kì.
Nói đến văn hóa vật chất truyền thống, ngoài nhà cửa, trang phục, ăn uống không thể không đề cập đến phương tiện sinh hoạt vật chất truyền thống khác, gắn với các hình thái kinh tế tạo nên cuộc sống vật chất của người Tày như: dụng cụ 15 sinh hoạt gia đình (chum, vại, ống tre nứa, điêng, xoỏng…); dụng cụ để sản xuất (cày, bừa, lỏng, liềm, cuốc, bai…); dụng cụ sản xuất thủ công nghiệp gia đình (máy kéo sợi, khung dệt vải…); dụng cụ đánh bắt cá, sản vật tự nhiên (súng kíp, cung, nỏ, vợt, chài…). Có thể nói văn hóa vật chất của người Tày khá phong phú, đa dạng, vừa độc đáo thể hiện những nét riêng của tộc người. Đó cũng là nét đẹp trong con người Tày nói riêng và người Việt Nam nói chung.