Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY, THEN TÀY Ở LAM VỸ, ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khái quát về dân tộc Tày 1. Vài nét về người Tày ở Việt Nam 1. Nguồn gốc lịch sử Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Địa bàn cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía đông bắc Việt Nam .Tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái .Cùng với các cư dân Tày Thái khác ,dân tộc Tày là một trong những chủ nhân đầu tiên của nước Việt cổ, lập nên nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng. Và cũng là một trong những cư dân lâu đời nhất ở nước ta .Trong cuốn Văn hóa truyền thống Tày Nùng, các tác giả viết: “ Về phương diện cội nguồn lịch sử, người Tày, người Nùng vốn thuộc chung một nhóm Âu Việt, trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam, Trung Quốc [37, tr. Người Tày là cư dân thuộc khối Bách Việt đó, như vậy ngay từ buổi đầu dựng nước dân tộc Tày đã là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc anh em. Dân số và địa bàn cư trú Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hóa, với 54 dân tộc anh em sinh sống.
Trong đó người Tày là một dân tộc thiểu số, có số dân 1.392 người, đông thứ 2 ở Việt Nam sau dân tộc Kinh. Người Tày chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lào Cai, tập trung nhiều nhất ở khu vực Việt Bắc (từ miền Nghĩa Lộ qua Yên Bái đến Quảng Ninh). Người Tày làm ruộng, tụ cư trong các thung lũng, cánh đồng ở các thượng lưu sông Kỳ Cùng, Bằng Giang, sông Cầu, sông Lô… Đất phù sa phân bố dọc các thung lũng sông, các bồn địa giữa các núi… tạo điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp nhiều ngành, nhiều nghề.
Đồng bào Tày vốn cần cù trong lao động, sản xuất. Họ có truyền thống làm 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng các biện pháp thủy lợi như đào mương, bắc máng lấy nước tưới ruộng. Với các đặc điểm địa lý tự nhiên thuận lợi, dân tộc Tày tại các vùng cư trú ở Việt Nam có điều kiện để phát triển kinh tế to lớn và toàn diện với nền kinh tế nhiều thành phần như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp. Trong xu thế phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc Tày cùng các dân tộc anh em khác như giữ lại được trang phục cổ truyền, sinh hoạt văn hóa trong đám cưới, ma chay, lễ hội… không phải là điều dễ dàng.
Việc bảo tồn và phát huy những nét sinh hoạt độc đáo của người dân tộc đòi hỏi một chính sách nhất quán để họ hiểu nhận thức được vốn quý giá của dân tộc, có ý thức gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Người Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên Lam Vỹ là một xã phía Đông của huyện Định Hóa, cách thành phố Thái Nguyên 60km về phía Bắc. Lam Vỹ là một xã miền núi thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Định Hóa với vùng núi cao, điều kiện giao thông còn khó khăn.
Đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp. Thiên nhiên bốn mùa ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội cũng như tạo nên những nét đặc trưng riêng về văn hóa vật chất lẫn tinh thần của đồng bào nơi đây. Đời sống kinh tế, xã hội * Dân số Thái Nguyên là một trong những tỉnh đồng bào Tày có mặt lâu đời. Năm 1999 dân tộc Tày có 106.238 người đứng thứ hai trong các dân tộc của tỉnh (chiếm 10,15%) hiện có mặt ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất là ở huyện Định Hóa 41,1%.
Riêng ở Định Hóa, số xã có 90% người Tày cư trú trở lên đó là: Linh Thông, Bộc Nhiêu, Điềm Mặc, Bình Yên, Tân Hà, Lam Vỹ, huyện Định Hóa. Định Hóa là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên được biết đếm với di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu Định Hóa. Diện tích tự nhiên: 52057,4 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn ha (tính đến năm 2005), dân số toàn huyện có 89 510 người, mật độ dân số 171,24 người /km2. Sinh sống trên địa bàn Định Hóa hiện nay có tám dân tộc trong đó dân tộc Tày chiếm 49,23%, dân tộc Nùng chiếm 3,26%, dân tộc Kinh 34,82%, dân tộc Hoa 1,4%.Dân tộc Tày có mặt sớm nhất ở vùng đất này, các dân tộc khác di chuyển đến muộn hơn.
Dù có nhiều thành phần dân tộc với những phong tục tập quán, trình độ sản xuất khác nhau nhưng nhân dân các dân tộc Định Hóa luôn đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hi sinh cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương. Trong xã Lam Vỹ có 20 xóm ,với 4.231 nhân khẩu với 1080 hộ. Dân tộc Tày chiếm 85 % dân số. Dân tộc Tày nơi đây đã gìn giữ được rất nhiều những bản sắc văn hóa độc đáo trong đó có hoạt động Then mà đề tài luận văn quan tâm nên việc tìm hiểu người Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên là một việc làm cần thiết.
* Kinh tế Cũng như người Tày ở vùng Việt Bắc nói chung, người Tày ở Thái Nguyên lấy nông nghiệp trồng trọt với phương thức canh tác ruộng nước kết hợp với gieo trồng trên đất dốc và vườn đồi làm nguồn sống chính. Các hoạt động mưu sinh khác như chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán, săn bắt hái lượm chỉ là những hoạt động phụ mang tính hỗ trợ hoạt động trồng trọt. Trong nông nghiệp trồng trọt, canh tác ruộng nước là hình thức chủ đạo trong đó lúa là cây lương thực chính. Ngoài ra, các lại hoa màu như ngô, khoai, sắn…là cây lương thực phụ.
Về chăn nuôi, cũng như các hoạt động khác, chỉ được xem như những nghề phụ. Nhưng trong những năm trở lại đây chăn nuôi mới có cơ hội phát triển và chiếm tỷ trọng đáng kể trong thu nhập của họ. Nhiều mô hình chăn nuôi mới được áp dụng khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế cao So với một số dân tộc khác trong tỉnh, thủ công gia đình của người Tày phát triển hơn. Tuy họ không có nghề thủ công nào nổi tiếng nhưng sản phẩm thủ công 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn của họ đẹp và có mặt trong hầu hết các hoạt động mưu sinh và sinh hoạt gia đình của họ.
Trong đời sống kinh tế của người Tày ở Thái Nguyên xưa kia săn bắt, hái lượm chiếm đoạt các sản vật sẵn có trong tự nhiên để sinh sống là hoạt động không thể thiếu. Các loại muông thú, rau, củ, quả.sẵn có trong rừng là nguồn cung cấp thực phẩm cho các bữa ăn, dược liệu để chữa bệnh. Việt Bắc là khu vực buôn bán khá phát triển. Các chợ phiên trong khu vực này hình thành khá sớm và có vai trò nhất định trong đời sống kinh tế của các tộc người.
Các chợ trong vùng thường có phiên họp theo một quy ước thống nhất, ít trùng lặp, được cư dân trong vùng chấp nhận. Chợ là nơi mua bán và cũng là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Ngày nay, việc mua bán nhất là buôn bán nhỏ trong các làng bản người Tày ở Thái Nguyên tương đối phát triển. Về quan hệ xã hội, đơn vị xã hội cơ sở của người Tày vẫn luôn là bản.
Đó là một đơn vị tụ cư của nhiều dòng họ, lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, có thiết chế tự quản và những chế định riêng. Người Tày ở Thái Nguyên thường tụ cư ở những vụng giáp ranh giữa rừng và ruộng. Các bản của người Tày ở đây thường tựa lưng vào núi rừng, hướng xuống thung lũng. Mỗi bản thường có địa vực cư trú riêng, bao gồm đất ở, đất canh tác, rừng rú, sông suối… Quy mô của các bản Tày vừa và nhỏ, mỗi bản thường chỉ có 20 đến trên dưới 60 hộ gia đình.
Cá biệt có những bản có quy mô hơn 100 nóc nhà. Trong bản đều có nhiều dòng họ cùng chung sống và quan hệ láng giềng được coi là quan hệ chủ đạo. Trong mỗi bản thường có những chòm xóm nhỏ, phân bố tương đối biệt lập, nhưng đều hướng ra cánh đồng hoặc con đường cái chạy qua. Trong mỗi bản có những họ là gốc Tày cổ, nhưng cũng có những họ là gốc Kinh bị Tày hóa.
Mỗi xóm bản đều có một trưởng xóm bản. Chế độ sở hữu của người Tày ở đây gồm hai hình thức: Sở hữu công cộng của xóm bản và sở hữu tư nhân. Về sở hữu công cộng bao gồm toàn bộ đất đai, rừng núi, sông suối và tài nguyên trong phạm vi thôn bản. Ngoài ra còn có các 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn công trình công cộng như đường sá, cầu cống, đền miếu….Sở hữu tư nhân gồm tất cả các tư liệu sản xuất:đất đai, nương rẫy đã và đang sử dụng khai thác của mỗi gia đình.
Ngoài ra còn có các tài sản khác như nhà cửa, các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp, các loại đồ gia dụng…do các gia đình tạo nên. Quan hệ cộng đồng là đặc trưng nổi bật trong các xóm bản của người Tày. Người dân Tày trong các xóm bản có những mối liên quan chặt chẽ trong tất cả các khía cạnh của đời sống, từ lao động sản xuất, các quá trình vật chất đến đời sống tinh thần và tôn giáo tín ngưỡng. Không chỉ duy trì quan hệ dòng họ, thân tộc, thích tộc, người Tày còn đặc biệt coi trọng tình làng nghĩa xóm.
Bất kể các công việc quan trong của mỗi đời người (làm nhà mới, cưới xin, tang ma…) đều được coi là công việc chung của cả cộng đồng. Các dịp sinh hoạt cộng đồng đều được coi là một cơ hội thắt chặt tình đoàn kết gắn bó xóm giềng, thôn bản. Thông qua đó, ý thức về một tộc người càng được củng cố và nâng cao. * Văn hóa, xã hội Nhà sàn là loại hình nhà có từ lâu đời của đồng bào Tày.
Người Tày không tính quy mô ngôi nhà bằng chiều rộng mà tính bằng số cột chính, chẳng hạn loại nhà 8 cột, 12 cột, 10 cột, 16 cột…Mặt bằng nhà có dáng hình chữ nhật hay dáng gần hình vuông.