Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm liên quan 1.Văn hoá Xã hội ngày càng phát triển, dòng chảy của nhịp sống hiện đại càng làm con người rời xa những giá trị truyền thống, chạy đua theo thời đại công nghệ số. Mà các giá trị văn hoá được cho là một trong những động lực tinh thần cơ bản quan trọng để thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Đây như một nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo nên những nền tảng không thể thay thế được.
Nhưng trong thời buổi công nghệ số như hiện nay, việc duy trì một giá trị văn hoá đã là vấn đền khó, tạo nên một sợ dây kết nối giữa dân tộc đang là hồi chuông lớn. Không những thế các nhận định về văn hóa cũng dần thay đổi theo nhận thức nhân loại, cũng như dòng chảy thời gian. Tạo nên những điểm mới trong nhận định về văn hóa không chỉ của các nhà nghiên cứu trong nước, mà còn của các nhà nghiên cứu thế giới. Từ những năm 1881 thì cả thế giới đã đón nhận các khái niệm, định nghĩa về văn hoá từ rất sớm.Taylor đã có cho riêng mình khái niệm về văn hoá như sau “Văn hoá, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác nhau được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [41].
Dù đã có rất nhiều ý kiến xoay quanh khái niệm này, các nhà nghiên cứu khoa học đã nhận định rằng ông Tylor đã đồng nhất văn hoá và văn minh, do đó không vạch rõ ranh giới nhận dạng hai thuật ngữ này. Dù có nhiều ý kiến phản bác về khái niệm, nhưng ẩn chứa bên trong đó là những phát hiện mang tính liệt kê không nói chung chung và mơ hồ. Nếu chỉ xét ở góc độ nội dung khái niệm thì ông đã rất rõ 12 ràng trong việc giới hạn những vấn đề nào thuộc vào văn hoá (đồng nghĩa văn hoá và văn minh), dù là những người không am hiểu về vấn đề khoa học trong lĩnh vực văn hoá thì vẫn có thể hiểu hoặc có sự hình dung nhất định về văn hoá thông qua khái niệm trên. Khái niệm văn hoá cũng giống như tất cả các môn khoa học khác, phải trải qua quá trình dài nghiên cứu khoa học và quá trình “bổ sung hiểu biết” để dần hoàn thiện những khái niệm liên quan.
Và ở các góc độ khác nhau, thì các nhà nghiên cứu khoa học lại hiểu văn hóa ở từng góc độ khác nhau, hay ở từng quốc gia thì văn hóa lại được “biến hoá” để thích hợp với từng quốc gia lãnh thổ. Cũng như khoa học ngày nay, mọi người đều hiểu văn hoá theo hướng là tất cả những gì con người tạo ra, khác với những gì tồn tại trong tự nhiên xung quanh con người. Hay nói một cách khác là tất cả những hoạt động sáng tạo của con người trong thế giới nhân sinh này. Mà nói đến hoạt động sáng tạo của con người, thì lại mang nét đặc trưng riêng của từng lãnh thổ, từng quốc gia.
Do đó mà tạo nên tính đa dạng văn hoá muôn màu, góp phần làm cho thế giới luôn mang những điều bí ẩn mà con người muốn khám phá và thăm quan. Từ những hiểu biết rất sâu về văn hoá mà các nhà nghiên cứu khoa học cũng đã giúp chúng ta dần tìm ra điều khác biệt giữa văn hoá và văn minh, khi văn minh là một trong những thời kỳ của lịch sử văn hoá. Từ giữa đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam đã công nhận nghiên cứu văn hóa là một môn khoa học. Mở đầu công cuộc tìm hiểu về văn hóa đầu tiên có thể nói đến nhà nghiên cứu Đào Duy Anh với tác phẩm rất nổi tiếng Việt Nam văn hoá sử cương ra đời năm 1938, đã mở lối đi mới cho ngành nghiên cứu khoa học này.
Nhưng đến năm 1945 trong cuốn sách Văn hóa là gì ông đã có nhận định về mối quan hệ giữa văn hóa và sinh hoạt. Từ đó, ông đã đi đến định nghĩa: “Văn hóa là những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người trong cả phương diện vật chất, tinh thần và xã hội”. 13 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái niệm về văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, pháp luật, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [26;431].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng tất cả những gì do con người sáng tạo ra đều là văn hóa và chính văn hóa đã phục vụ lại đời sống con người. Trong nghiên cứu của mình, Trần Quốc Vượng cũng đã nêu nhận định về văn hóa theo giá trị chuẩn mực xã hội “Văn hóa là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử của cộng đồng” [47;16]. Những nhận định về văn hóa ở Việt Nam cũng luôn được đổi mới theo thời gian và tiếp thu nhận thức nhân loại. “Biển học vốn bao la.
Tri thức về văn hóa Việt Nam là một vùng biển nhỏ trong cái biển bao la đó. Các công trình nghiên cứu dù công phu đến mấy cũng chỉ mô tả được một phần nào vùng biển ấy thôi, Và ngay trong lúc nhà nghiên cứu đang gắng công mô tả nó mau chóng bị thực tiễn bỏ lại sau lưng” [15;1]. Vì thế mà những nhận định về văn hóa luôn đổi mới để thích nghi với thời đại công nghệ và hội nhập thế giới. Những chuyển biến mạnh mẽ của xã hội từ sau thế kỷ XX, đã làm cho thế giới phổ biến một cách hiểu về văn hóa cụ thể hơn, không chỉ xem văn hóa là những hoạt động, sản phẩm nhân tạo, mà còn gắn liền văn hóa với dân tộc, tộc người.
“Văn hóa luôn hàm chứa bản sắc tộc người, nên các dân tộc, các tộc người đều cần bảo tồn nó để tránh khỏi lai căng, mất gốc trong khi hội nhập, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và tin học hóa về giáo dục, truyền thông” [15;87]. 14 Từ các khái niệm trên cho thấy, văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra thông qua sinh hoạt, mà hoạt động sinh hoạt nêu trên chính là hình thức lao động của con người trên lĩnh vực vật chất và tinh thần, mang bản sắc dân tộc. Người lao động không chỉ hoạt động sinh hoạt để tạo ra vật chất nuôi sống mình, mà còn tạo ra những giá trị tinh thần quý giá mang bản sắc dân tộc để trao truyền cho các thế hệ mai sau. Những hình ảnh ấy được tái hiện đặc sắc trong hệ thống truyện bác Ba Phi.
Từ những sinh hoạt thường ngày của người dân lao động, bác Ba Phi đã khéo léo vận dụng nghệ thuật ngôn từ tài tình để tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần cho xã hội. Văn hóa phi vật thể Trong mục 1, điều 4 Luật Di sản văn hóa (2013) có nêu khái niệm về văn hóa phi vật thể “Văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”[18]. Trong khuôn khổ của đề tài tôi nghiên cứu về những nét văn hóa cùng sự lưu truyền và kế thừa của những mẫu chuyện kể. Di sản văn hóa phi vật thể Là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
Tại Điều 2 Nghị định 98/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật di sản văn hóa và Luật di sản văn hóa sửa đổi có quy định di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: 15 + Tiếng nói, chữ viết; + Ngữ văn dân gian; + Nghệ thuật trình diễn dân gian; + Tập quán xã hội và tín ngưỡng; + Lễ hội truyền thống; + Nghề thủ công truyền thống; + Tri thức dân gian. Giá trị văn hóa Theo Từ điển Tiếng Việt giá trị văn hóa được xem như là “cái làm cho mọi vật có ích, có lợi, có ý nghĩa, là cái đáng quý về mặt nào đó” [11;371]. Bất cứ những gì mà con người làm ra đều có giá trị và nó phục vụ đời sống của con người. Một cách nhìn nhận khác về giá trị đó là “Giá trị là một phạm trù triết học, xã hội học chỉ có tính có ích, có ý nghĩa của sự vật hiện tượng tự nhiên hay xã hội, có khả năng phục vụ nhu cầu lợi ích của con người” [12;97].
Trong các giá trị ấy đều chứa đựng những nhận thức, yếu tố tình cảm, hành động hay chuẩn mực, những biểu tượng văn hóa của cộng đồng, của dân tộc. Vì thế giá trị văn hóa của dân tộc rất đa dạng và phong phú, nó phản ánh sự đa dạng của lịch sử, môi trường, sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của dân tộc, địa phương. Theo Ngô Đức Thịnh, “Giá trị văn hóa (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy” [43;33]. Tại điều 1 Luật Di sản (2013) đã nhấn mạnh “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần và vật chất, có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Theo đó 16 tất cả những gì do con người làm ra đều có giá trị và được lưu truyền lại cho các thế hệ sau.