mở đầu nói về nguồn gốc ra đời của ông cha minh. Day chính là cơ sở sinh ra tín ngưỡng thờ cúng tô tiên của người Mường. Cũng như các dân tộc khác, người Mường luôn có một lòng thành kính đối với bề trên và một lòng biết ơn tổ tiên đã tạo ra cuộc sống này, đã phù hộ độ trì cho con cháu. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gắn liền trong đời sống của họ và lòng tưởng nhớ về tô tiên luôn ở trong tâm trí của họ.
Ngoài tín ngưỡng thờ cúng t6 tiên thì bên cạnh đó người Mường còn có những tín ngưỡng khác như tín ngưỡng thờ đá, tín ngưỡng thờ quả, tín ngưỡng thờ cây, tín ngưỡng thờ động vật, tín ngưỡng thờ vó rác (giếng nước), tín ngưỡng thờ vật thiêng, tín ngưỡng thờ nhân thần và thành hoàng. Tín ngưỡng thờ cúng của người Mường mang một ý nghĩa quan trọng trong đời sống của họ. Họ thờ cúng để được che chở, được phù hộ cho cuộc sống của họ thuận lợi và tốt đẹp hơn. Khái quát về người Mường ở Mường Động Mường Động là một trong bốn mường nỗi tiếng của người Mường ở Hòa Bình, thuộc huyện Kim Bôi ngày nay, nằmở ria phía Đông của tỉnh Hòa Bình.
Huyện Kim Bôi phía bắc giáp huyện Lương Sơn và huyện Kỳ Sơn, phía tây giáp thành phố Hòa Bình và huyện Cao Phong, phía nam giáp các huyện Lạc Sơn, Yên Thủy và Lạc Thủy, phía đông giáp huyện Lạc Thủy và huyện Lương Sơn, tất cả các huyện thị này đều thuộc tỉnh Hòa Bình. Kim Bôi có diện tích 54.950,64 ha và dân số 114. Kim Bôi chủ yếu là người Mường, sống xen kẽ với số ít dân tộc Kinh và dân tộc Dao. Từ 1/10/2009 huyện Kim Bôi còn 27 xã và 01 thị tran gồm: Hùng Tiến, Bắc Sơn, Bình Sơn, Nat Sơn, Sơn Thủy, Du Sáng, Tú Sơn, Vĩnh Tiến, Vinh Đồng, Đông Bắc, Thượng Tiến, Thượng Bì, Hạ Bì, Trung Bì, Lập Chiệng, Hợp Đồng, Hợp Kim, Kim Sơn, Kim Bình, Kim Bôi, Kim Tiến, Kim Truy, Nam Thượng, Sao Bay, Cuối Hạ, Nuông Dam, Mi Hòa và thị trấn Bo.
[36] 15, Mường Động là một trong bố n M ư ờ n g lớ n ở Hò a Bì nh , có từ th ời Qu an g. Trong tổ chức ch ín h trị - xã hộ i cô tr uy ền củ a ng ườ i Mư ờn g thì họ số ng một vùng đất nhỏ gồm từ một đến và i th un g lũ ng ch ân nú i, mỗ i M Ư Ơ N G có một dòng họ thống trị. Trong phạm vi mộ t M Ư Ơ N G , tứ c vù ng đấ t gồ m nh iề u làng trong mộ t th un g lũ ng ch ân núi ha y mộ t số th un g lũ ng nối liề n nh au. Là ng mường là cách gọi tên các khu dân cư củ a ng ườ i Mư ờn g tr on g kh ắp tỉ nh Hò a Bình.
Danh từ Mường được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến trong địa vực sinh sống của người Thái. Ở đâu có người Thái ở đó có các Mường. Trên lãnh thé miền Bắc Việt Nam, vùng núi Tây — Bắc là địa bàn đông người Thái sinh sống. Ở đây có những địa danh rất nỗi tiếng như Mường Then nay là thung lũng Mường Thanh nỗi tiếng ở Điện Biên Phủ, Mường Lò ở Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái, Mường Nhé ở lai châu, Mường Mùn nay là khu vực huyện Mai Châu của tỉnh Hòa Bình.
đều là khu vực người Thái định cư. Từ “MUONG?” của người Thái và người Mường là giống nhau, cũng có nghĩa là chỉ các khu dân cư. Ở Hòa Bình có rất nhiều các mường lớn nhỏ, trong đó có bốn Mường lớn mà dân gian thường có câu: “Pi, Woang, Thang, Doong” (Bi, Vang, Thàng, Động). Các Mường lớn thông thường có các dòng Lang có thế lực cai trị.
Các làng Mường nhỏ theo áp chế của Lang tập hợp thành các vùng Mường lớn với chung tâm là làng Mường Chiệng. Các vùng Mường này được hình thành mang tính phân vùng khá biệt lập và là tàn dư của chế độ phong kiến, hình thái tập các làng, thái ấp có lãnh chúa là Lang Cun cai trị. Trước cách mạng Tháng 8 — 1945 các làng Mường được phân chia chủ yếu thành các mường lớn, mường nhỏ. Các mường lớn của tỉnh Hòa Bình có thé kế tới: Mường Bi ở 16 hu yệ n Tâ n Lạ c, M ư ờ n g Va ng ở hu yệ n Lạ c Sơ n, M ư ờ n g Th àn g ở hu yệ n Ca o Phong, Mườn g Đ ộ n g ở h u y ệ n K i m B ô i.
Vùng Mường Bi xưa nay thuộc huyện Tân lạc, tỉnh Hòa Bình, diện tích khá rộng nay được phân chia thành 7 xã: Phú Vinh, My Hòa, Phông Phú, Tuân Lộ, Địch Giáo, Quy Mỹ, Do Nhân với gần 100 làng mường nhỏ. Chiếm gần 1/3 diệ n tích cả huy ện Tân lạc ngà y nay. Tru ng tâm Mư ờn g Bi xưa là làng Chiền Lầm nay thuộc xóm Lầm, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc. Dòng Lang Cun họ Định Thế truyền được 20 đời cai quản vùng mường nơi đây đến tận tháng 8 — 1945 cho đến khi chế độ mới ra đời.
Mường Vang ở huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình. Mường Vang nằm ở phía Đông — Bắc của huyện Lạc Sơn. Trước cách mạng Tháng 8 — 1945, vùng Mường này rất rộng lớn. Ngày nay Mường Vang chiếm hơn 1⁄3 diện tích huyện Lạc Sơn, bao gồm 7 xã: Quý Hòa, Tuân Đạo, Tân Lập, Nhân Nghia, Văn Nghĩa, Mỹ Thành.
Trung tâm của Mường Vang xưa là làng Chiềng Vang, nay là xóm Chiéng, thuộc xã Tân lập. Dòng Lang họ Quách truyền đời làm Lang Cun ở Làng Chiềng Vang có quyền lực cai quản toàn Mường Vang. Mường Động ở huyện Kim Béi tinh Hòa Bình, nay gồm 6 xã: Vĩnh Đồng, Thượng Tiến, Hạ Bì, Trung Bì, Kim Bình, Kim Tiến. Trung tâm của Mường Động xưa là làng Chiéng Động, nay là xóm Chiéng, xã Vĩnh Đồng.
Dòng Lang họ Đinh Công có thế lực nhất vùng. [31,59] Người Mường Động chủ yếu cư trú ở các vùng thung lũng, những dải đồi thấp ven núi. Vì vậy từ trước tới nay, cư dân Mường Động sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa và kết hợp làm nương rẫy, ngoài ra họ còn chăn nuôi gia súc, gia cam. Các nghề thủ công truyền thống như dệt vải, đan lát khá phát triển, tự cấp được vải mặc và đồ dùng cho gia đình.
Bản làng được tập trung ở chân núi với hướng nhà nhìn ra cánh đồng hay dòng suối. Họ ở nhà sàn, ăn cơm tẻ hoặc cơm nếp với các món đồ nướng, uống rượu cần trong các dịp lễ. Chính vì điêu kiện cư trú như vậy, nên nền văn hóa Mường Động 17 nếp ăn, nếp nghĩ hà ng ng ày. Vì vậ y đâ y là mộ t né tv ăn hó a hế t sứ c gi ản dị mộ c mạc mà độc đáo.
Cư dâ n Mư ờn g Độ ng có ph on g tụ c cư ới xin , ta ng ma kh á phức tạp. Ngày nay do sống xen kẽ người Kinh, tiếp nhận văn hóa của người Kinh nên những phong tục này đã có ph ần kh ác xư a. Tu y nh iê n, cá c tậ p tụ c này chỉ biến đổi ở một vài kh ía cạ nh nh ỏ về mặ t hì nh th ức và họ vẫ n gi ữ đư ợc văn hó a gố c tr on g qu an ni ệm cũ ng nh ư lô i sô ng. Tín ngưỡ ng là ni ềm tin của co n ngư ời.
Cư dâ n Mư ờn g Độ ng ma ng trong mình tín ngưỡng đa thầ n, tín ng ưỡ ng th ờ cú ng tổ tiê n,. ch ủ yế u vì họ sống phụ thuộc và o mô i trư ờng thi ên nhi ên kh ắc ngh iệt của sôn g suố i, rừ ng núi, đổi gò, thu ng lũn g,. Họ mu ốn có mộ t thế lực nào đó giú p họ chế ngự thiên nhi ên, từ đó sin h ra nhi ều biể u hiệ n của tín ngư ỡng dân gian. Với ngư ời Mường Động cũng như các mường khác, họ có quan niệm riêng về tín ngư ỡng thờ cún g tô tiên , qua n niệ m riê ng về linh hồn.
Ngư ời Mư ờn g gọi linh hôn là “Wai”. Ở nơi được coi là “rừng thiêng nước độc” của Mường Động. Khi nghe nhắc tới địa danh này, người ta nghĩ ngay nơi đây cây cối rậm rạp, nhiều thú rừng hoang dã và cả những tín ngưỡng, hủ tục kì lạ, những câu chuyện về bùa ngải, ma rừng. Mường Động là nơi rừng núi hiểm trở, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.
Vì vậy để sống được ở nơi này, những cư dân Mường đã phải chống chọi với những hiện tượng bat thường của tự nhiên. Họ phải nhờ cậy vào các lực lượng siêu hình, thờ cúng núi rừng, thờ cúng những vật lạ, vật thiêng là một điều không thé không có đối với họ và đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tiểu Kết: Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào một điều gì đó, một thế lực nào đó. Tín ngưỡng không phải là tôn giáo.
Tuy nhiên, tín ngưỡng đem lại cho con người lòng tin thiêng liêng, giúp cho họ vượt qua những khó khăn 18 k h ô n g lư ờn g tr ướ c. Ở Vi ệt N a m tí n n g ư ỡ n g m a n g đ ậ m tí nh dâ n gi an bả n đị a, gắn liền vớ i đờ i số ng củ a cá c c ộ n g đ ồ n g c ư d â n từ xư a. Vi ệt N a m là m ộ t n ư ớ c đa dân tộc nhưng cơ sở dé sinh ra tín ng ưỡ ng nó i ch un g củ a cư dâ n Vi ệt N a m và của mỗi dân tộc nói riêng đều xu ất ph át từ đặ c đi ểm cư tr ú cũ ng nh ư si nh a c ủ a m ỗ i vù ng. N h ư n g tí n n g ư ỡ n g nó i c h u n g c ủ a Vi ệt N a m là hoạt văn h ó xuất phát từ nguồn gốc cư dân văn hóa nô ng ng hi ệp lú a nư ớc , tr ồn g dâ y le o, să n bắ n, há i l ư ợ m , đ á n h ba t.