Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ca trù là loại hình nghệ thuật diễn xướng cổ truyền của người Việt, tích hợp cả yếu tố dân gian lẫn bác học. Trong lịch sử, Thăng Long - Hà Nội là trung tâm quy tụ nhiều đào nương, kép đàn, tác giả và tác phẩm ca trù tiêu biểu. Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, dưới tác động của quá trình đô thị hóa thời thuộc Pháp, ca trù phát triển mạnh theo mô hình nhà hát cô đầu tại các khu vực như Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, đồng thời làm xuất hiện hiện tượng cô đầu rượu và làm biến dạng lề lối diễn xướng nghiêm ngặt truyền thống. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các môi trường diễn xướng truyền thống chấm dứt hoạt động, tổ chức giáo phường giải thể, đội ngũ nghệ nhân chuyển sang làm các nghề khác, dẫn đến sự đứt đoạn trong việc truyền thừa.

Từ sau năm 1986, phong trào phục hồi nghệ thuật truyền thống bắt đầu diễn ra. Sự ra đời của Câu lạc bộ (CLB) Ca trù Hà Nội giai đoạn 1990 - 1991 và sự kiện Liên hoan Ca trù Hà Nội mở rộng lần thứ nhất năm 2000 đã đặt dấu mốc cho quá trình hồi sinh của loại hình này. Tháng 10 năm 2009, UNESCO ghi danh Ca trù vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Tuy nhiên, trong đời sống đương đại, ca trù xuất hiện xu hướng "phổ cập hóa" và "đại chúng hóa", làm suy giảm các chuẩn mực kỹ thuật về nghệ thuật diễn xướng (NTDX) và môi trường diễn xướng (MTDX). Thế hệ người thực hành trẻ kế cận bộc lộ nhiều điểm sai lệch so với nghệ thuật truyền thống. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu về bức tranh biến đổi toàn diện của ca trù Hà Nội trong suốt 30 năm phục hồi (1990 - 2021) dưới góc nhìn văn hóa dân gian.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận về sự biến đổi của ca trù tại Hà Nội, luận án luận giải các biểu hiện biến đổi và xu hướng phát triển trong đời sống đương đại, từ đó chỉ ra những biến đổi thích hợp cần phát huy và các biến đổi sai lệch cần điều chỉnh.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khảo sát đặc trưng của ca trù truyền thống và thực trạng ca trù đương đại tại Hà Nội.
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của ca trù thông qua hệ thống 17 câu lạc bộ, giáo phường, nhóm ca trù và các cuộc liên hoan trên địa bàn Hà Nội.
    3. Tổng kết những biến đổi phù hợp và chưa phù hợp; bàn luận về các yếu tố tác động và xu thế phát triển của ca trù trong bối cảnh xã hội mới.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Đặc trưng của ca trù truyền thống được biểu hiện ở các yếu tố nào?
    2. Sự biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội được thể hiện ở những nội dung nào?
    3. Qui luật của sự biến đổi và xu thế phát triển của ca trù tại Hà Nội trong thời gian tới?
  • Giả thuyết nghiên cứu: Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội so với ca trù truyền thống diễn ra trên mọi phương diện, từ nghệ thuật diễn xướng đến chủ thể thực hành, bao gồm cả biến đổi về lượng và biến đổi về chất. Sự biến đổi mang tính quy luật tất yếu và đang phát triển theo chiều rộng; do đó chất lượng nghệ thuật cần được chú trọng để giúp ca trù thoát khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những biến đổi của ca trù trên bốn phương diện chính: (1) Nghệ thuật diễn xướng; (2) Môi trường diễn xướng; (3) Chủ thể thực hành ca trù; (4) Phương thức truyền dạy và học tập ca trù.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Hà Nội mở rộng (gồm các quận nội thành và huyện ngoại thành nơi có các câu lạc bộ, giáo phường hoặc nhóm ca trù đang hoạt động). Khi cần thiết, luận án mở rộng so sánh với các địa phương khác như Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2021 (tính từ thời điểm thành lập CLB Ca trù đầu tiên của Hà Nội sau thời kỳ gián đoạn).
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận tính nguyên hợp của văn hóa dân gian để so sánh, đối chiếu giữa ca trù truyền thống và ca trù đương đại qua hoạt động của các tổ chức thực hành.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án phân chia các tài liệu đã công bố thành hai nhóm nghiên cứu chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về lịch sử, nghệ thuật và văn học ca trù

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về sự biến đổi và bảo tồn ca trù
  • Nhóm các công trình nghiên cứu về ca trù truyền thống:
    • Các khảo cứu đầu thế kỷ XX tập trung mô tả môi trường sinh hoạt và văn chương hát nói: Phạm Quỳnh với "Văn chương trong lối hát Ả đào" (1923), Phạm Văn Duyệt với "Hát Ả đào" (1923), Tú Tài Hà Liên với "Hát Ả đào" (1933), Nguyễn Đôn Phục với "Khảo luận về cuộc hát ả đào" (1932), Nguyễn Văn Ngọc với "Văn chương hát nói" (1932). Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát công bố loạt bài khảo cứu trên báo Ngày nay (1940) và tạp chí Thanh Nghị (1942, 1943, 1944) đi sâu vào tiết tấu, âm điệu, tiếng trống chầu và khổ đàn, khổ phách.
    • Giai đoạn sau năm 1954: Cuốn "Việt Nam ca trù biên khảo" (1962) của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề hệ thống hóa nguồn gốc, lề lối hát cửa đình, hát thi và tư liệu Hán Nôm triều Nguyễn. Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú biên soạn "Tuyển tập thơ ca trù" (1987).
    • Các nghiên cứu chuyên sâu từ năm 2000 trở đi: Nguyễn Xuân Diện nghiên cứu lịch sử và tư liệu Hán Nôm (2000, 2007); Nguyễn Đức Mậu nghiên cứu thể loại hát nói và ca trù Hà Nội (2000, 2010); Bùi Trọng Hiền phân tích cấu trúc khổ phách và khổ đàn (2015, 2018 - 2019); Phương Hoa (2008) và Nguyễn Hiền Đức (2019) nghiên cứu dưới góc độ âm nhạc học; các luận văn của Vũ Nhật Tân (1995), Nguyễn Thủy Tiên (2007), Đặng Thị Toan (2011), Phan Thị Duyên (2012) khảo sát các môi trường và nôi ca trù Thượng Mỗ, Lỗ Khê. Nghiên cứu của các học giả quốc tế gồm Barley Norton (1996), Gisa Jähnichen (1997), Alienor Anisensel và Bùi Long (2019).
  • Nhóm các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của ca trù:
    • Tuyển tập "Ca trù nhìn từ nhiều phía" (2003) do Nguyễn Đức Mậu biên soạn tập hợp nhiều góc nhìn về lịch sử và biến đổi.
    • Công trình "Đặc khảo ca trù Việt Nam" (2006) của Đặng Hoành Loan, Phạm Minh Hương và Hồ Thị Hồng Dung tổng hợp kết quả điền dã tại 17 tỉnh thành phục vụ hồ sơ đệ trình UNESCO, bước đầu nhận diện sự chuyển đổi từ mô hình giáo phường sang câu lạc bộ.
    • Vũ Thanh Thủy (2012) với luận văn thạc sĩ về bảo tồn và phát huy ca trù; Nguyễn Đức Thắng (2017, 2021) nghiên cứu hoạt động biểu diễn của 3 câu lạc bộ tiêu biểu tại Hà Nội.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận ca trù ở góc độ âm nhạc học thuần túy, văn bản học Hán Nôm, lịch sử văn học hoặc chỉ khảo sát hoạt động của một số ít nhóm thực hành riêng lẻ. Chưa có công trình chuyên khảo nào tiếp cận toàn diện ca trù dưới góc nhìn tính nguyên hợp của văn hóa dân gian, đặt trong khung thời gian 30 năm phục hồi (1990 - 2021), khảo sát toàn bộ 17 câu lạc bộ, giáo phường và nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội nhằm phân tích các mặt biến đổi tích cực cũng như các biểu hiện sai lệch về mặt kỹ thuật và không gian diễn xướng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  • Lý thuyết tính nguyên hợp của văn hóa dân gian: Khái niệm "folklore" do J. Thoms đưa ra năm 1846. Tại Việt Nam, Đinh Gia Khánh và các nhà nghiên cứu dân gian xác định văn hóa dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp bao gồm ba bộ phận: nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật diễn xướng. Lý thuyết này được tác giả vận dụng trong Chương 2 và Chương 3 để phân tích ca trù như một thực thể liên kết giữa thơ, ca, nhạc, múa và môi trường sinh hoạt.
  • Lý thuyết biến đổi văn hóa: Vận dụng các quan điểm và dự báo về biến đổi văn hóa của Lê Hồng Lý và Đỗ Lan Phương trong bối cảnh phát triển kinh tế, đô thị hóa và giao lưu quốc tế để giải thích nguyên nhân và xu hướng vận động của ca trù trong Chương 4.
  • Khái niệm diễn xướng và nghệ thuật diễn xướng: Dựa trên quan điểm của Richard Bauman (diễn xướng là hành vi nghệ thuật gắn liền với tình huống và bối cảnh), Kiều Trung Sơn, Tô Ngọc Thanh và Nguyễn Thụy Loan.
  • Khái niệm và thuật ngữ chuyên môn sâu:
    • Tên gọi: Ca trù (hát thẻ thưởng), Hát ả đào, Hát nhà tơ, Hát nhà trò, Hát cô đầu, Hát cửa đình, Hát cửa quyền, Hát ca công, Hát gõ.
    • Kỹ thuật thực hành: Hát khuôn - đàn khuôn (tuân thủ cấu trúc chuẩn mực), Hát hàng huê - đàn hàng huê (lối diễn tấu ngẫu hứng, hoa mỹ trong hát chơi), Hơi trong (lấy hơi sâu, mở trong đóng ngoài, ém hơi tạo độ vang chìm), Hơi ngoài (hát nông ngoài miệng), Đổ hột/nảy hạt (kỹ thuật rung ngắt của thanh hầu), Đổ con kiến (ngân hơi ngắt tầng phức tạp), Gân chìm - gân nổi, Ngón chùn/ngón chùng (kỹ thuật miết dây làm hạ cao độ trên đàn đáy), Ngón mượn (bấm nhấn tạo cao độ cao hơn), Phách mồm, Đàn mồm, Nhạc mồm.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa văn bản Hán Nôm, văn bia tại các làng xã, sách báo, bài nghiên cứu và hồ sơ lưu trữ về ca trù.
  • Phương pháp điền dã, quan sát tham dự: Tác giả tiến hành quan sát trực tiếp các buổi sinh hoạt, truyền dạy và biểu diễn tại các câu lạc bộ, lễ hội đình làng, hội thi; kết hợp vốn trải nghiệm gần 40 năm thực hành với tư cách đào nương và người quản lý câu lạc bộ.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trên 60 cá nhân với hàng trăm lượt tiếp xúc, bao gồm các nghệ nhân cao niên, nghệ sĩ, người cầm chầu, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý văn hóa.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý số liệu về số lượng câu lạc bộ, nghệ nhân, hội viên, chương trình đào tạo, tần suất biểu diễn và các kỳ liên hoan ca trù.
  • Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại giữa ca trù truyền thống và ca trù đương đại; so sánh đồng đại giữa các mô hình câu lạc bộ tại nội thành và ngoại thành Hà Nội.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành văn hóa dân gian với văn hóa học, âm nhạc học, sử học và quản lý văn hóa.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tư liệu viết: Thư tịch cổ, 33 văn bia giáo phường ca trù tại khu vực Hà Tây cũ, các bài báo từ thập niên 1920 - 1940 và các công trình nghiên cứu xuất bản từ năm 1962 đến 2021.
  • Nguồn dữ liệu điền dã: Băng ghi âm, ghi hình lời kể và phần trình diễn của các nghệ nhân tiêu biểu như Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Chu Văn Du, Phó Đình Kỳ, Nguyễn Phú Đẹ, Phạm Thị Mùi, Vũ Thị Vóc, Phó Thị Kim Đức.
  • Hồ sơ thực địa: Dữ liệu khảo sát từ 17 câu lạc bộ/giáo phường/nhóm ca trù trên địa bàn Hà Nội và hồ sơ các kỳ Liên hoan Ca trù toàn quốc và Hà Nội các năm 2000, 2011, 2014, 2018, 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ CA TRÙ

Chương 1 tổng hợp các hướng nghiên cứu trước đó, làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành và phác thảo tiến trình lịch sử ca trù qua các mốc thời gian:

  1. Giai đoạn ra đời và định hình: Các giả thuyết về nguồn gốc thời Lý (thế kỷ XI - năm 1025 vua Lý Thái Tổ đặt chức quản giáp); thời Trần (thế kỷ XIV - câu chuyện Ả Hàn Than trong Truyền kỳ mạn lục); thời Lê (thế kỷ XV - bài Bát xã thưởng đào văn của Lê Đức Mao chứng minh sự hoàn thiện của thể loại; thế kỷ XVI qua hình ảnh chạm khắc đàn đáy tại các đình Lỗ Hạnh, Tây Đằng và chùa Cót).
  2. Giai đoạn phát triển (thế kỷ XVII - XIX): Thế kỷ XVII - XVIII hình thành hệ thống giáo phường gắn liền với thiết chế làng xã; thế kỷ XIX đánh dấu sự phát triển của thể thơ hát nói với đóng góp của Nguyễn Bá Xuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát.
  3. Giai đoạn suy thoái và phục hồi (thế kỷ XX đến nay): Đầu thế kỷ XX bùng nổ nhà hát cô đầu đô thị (năm 1938 Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2000 cô đầu); giai đoạn 1945 - 1986 gián đoạn do hoàn cảnh chiến tranh và biến đổi xã hội; giai đoạn sau 1986 từng bước phục hồi thông qua các câu lạc bộ và liên hoan ca trù.

Chương 2: NGHỆ THUẬT CA TRÙ TRUYỀN THỐNG HÀ NỘI

Chương 2 mô tả chi tiết các yếu tố cấu thành nghệ thuật diễn xướng ca trù truyền thống như một chỉnh thể nguyên hợp:

  • Cấu trúc thơ - ca - nhạc - múa:
    • Thơ: Sử dụng các thể thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn và thể hát nói (cấu trúc đủ khổ gồm 11 câu chia làm khổ đầu, khổ giữa, khổ xếp). Lời ca kết hợp tính dân gian và chất bác học của giới nho sĩ.
    • Ca: Kỹ thuật thanh nhạc khắt khe, bao gồm kỹ thuật phát âm "hơi trong", ém hơi, "láy chìm", kỹ thuật "đổ hột" (nảy hạt) và "đổ con kiến".
    • Nhạc khí và biên chế dàn nhạc: Sự kết hợp giữa ba thành tố gồm cỗ phách (bàn phách, lá phách, tay ba với 5 khổ phách cơ bản), cây đàn đáy (cần dài, 3 dây, 16 phím to, kỹ thuật ngón chùn, ngón mượn, không dùng dây buông) và trống chầu (do quan viên cầm chầu điều khiển theo phép tắc thưởng phạt nghiêm ngặt).
  • Môi trường diễn xướng: Khảo sát các không gian truyền thống gồm hát cửa đình (hát thờ), hát cửa quyền (trong cung đình), hát tại tư dinh quan lại, hát tại nhà dân và hát chơi tại ca quán.
  • Chủ thể và tổ chức giáo phường: Phân tích vai trò của đào nương, kép đàn, quan viên cầm chầu; tổ chức giáo phường quản lý theo nghề nghiệp, tập tục tế tổ và nghi lễ "mở xiêm áo" công nhận đào nương chính thức vào nghề.
Thành tố diễn xướng Quy chuẩn truyền thống Chức năng trong chỉnh thể
Đào nương (Cỗ phách) Sử dụng bàn phách, lá phách, tay ba; gõ 5 khổ phách chuẩn mực; hát hơi trong, nảy hạt, láy chìm Giữ nhịp điệu, dẫn dắt giai điệu chính, biểu đạt ca từ
Kép đàn (Đàn đáy) Đàn 3 dây, 16 phím cao; sử dụng ngón chùn, ngón mượn; không gảy dây buông; ngồi kẹp nách Đệm hòa thanh, tòng theo giọng hát, diễn tấu lưu không
Quan viên (Trống chầu) Người thưởng ngoạn am hiểu âm luật; đánh điểm câu, thưởng chát, phạt hạ roi Thẩm định nghệ thuật, tương tác trực tiếp với đào kép
Không gian diễn xướng Cửa đình, cửa quyền, tư dinh, ca quán thính phòng Tạo môi trường cộng cảm, quy định tính chất bài bản

Chương 3: THỰC TRẠNG CA TRÙ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI TẠI HÀ NỘI

Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực tế giai đoạn 1990 - 2021:

  • Hoạt động của các câu lạc bộ: Khảo sát toàn diện 17 câu lạc bộ, giáo phường và nhóm ca trù tại Hà Nội (CLB Ca trù Hà Nội, CLB Thái Hà, CLB Lỗ Khê, CLB Thượng Mỗ, nhóm Bích Câu...). Các tổ chức này hoạt động tự nguyện, thiếu cơ sở vật chất cố định và nguồn kinh phí duy trì.
  • Thực trạng nghệ thuật diễn xướng: Bài bản bị thu hẹp, chủ yếu trình diễn một số bài hát nói quen thuộc; các thể cách phức tạp trong hát thờ, hát thi (thét nhạc, tỳ bà hành, nhịp ba cung bắc...) ít được thực hành. Nhiều đào nương trẻ mắc lỗi hát "ngoài miệng", thiếu hơi trong; kép đàn lạm dụng gảy dây buông và đánh mất kỹ thuật ngón chùn; gõ phách sai lệch cấu trúc khổ.
  • Biến đổi môi trường và chủ thể: Môi trường thính phòng thu hẹp, chuyển dịch sang sân khấu hội trường, nhà văn hóa, phố đi bộ phục vụ du lịch. Người cầm chầu nguyên bản vắng bóng, chuyển thành người trong nhóm nhạc gõ trống đệm đơn thuần.
  • Vấn đề truyền dạy và đánh giá: Chuyển từ phương thức truyền khẩu trực tiếp ("truyền ngón", "nhạc mồm") sang dạy tập trung ngắn hạn, học qua băng đĩa và ký âm phương Tây. Công tác chấm giải tại các kỳ liên hoan và xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân nhân dân còn bộc lộ một số tiêu chí chưa bám sát chuẩn mực cổ truyền.

Chương 4: ĐÁNH GIÁ, BÀN LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI CỦA CA TRÙ HÀ NỘI

Chương 4 phân tích, đánh giá quy luật biến đổi và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Biến đổi tích cực: Giúp khôi phục di sản sau thời gian dài gián đoạn; xây dựng được mạng lưới 17 câu lạc bộ; đưa ca trù tiếp cận công chúng đương đại và khách quốc tế; đóng góp dữ liệu để UNESCO công nhận di sản.
  • Biến đổi sai lệch: Hiện tượng "sân khấu hóa", "đại chúng hóa" làm mất đi tính thính phòng tĩnh lặng; kỹ thuật ca và đàn bị giản lược hóa; trang phục, phong thái biểu diễn có biểu hiện lai tạp; vai trò phản biện nghệ thuật của người cầm chầu bị triệt tiêu.
  • Các yếu tố tác động: Sự thay đổi cơ chế kinh tế, thị hiếu thưởng thức của công chúng đô thị, áp lực phục vụ du lịch, sự đứt gãy thế hệ nghệ nhân cao niên và phương pháp đào tạo hiện đại thiếu tính cá thể hóa.
  • Khuyến nghị và giải pháp: Chuẩn hóa chương trình truyền dạy bám sát lề lối hát khuôn, đàn khuôn; khôi phục không gian biểu diễn thính phòng; bồi dưỡng văn hóa thưởng thức và kỹ thuật cầm chầu cho công chúng; điều chỉnh tiêu chí giám khảo trong các kỳ liên hoan và hoàn thiện chính sách hỗ trợ nghệ nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

  • Về lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong chuyên ngành Văn hóa dân gian ứng dụng đồng thời lý thuyết tính nguyên hợp của folklore và lý thuyết biến đổi văn hóa để phân tích sự chuyển dịch của ca trù Hà Nội trong 30 năm (1990 - 2021). Luận án làm rõ quy luật vận động nội tại của nghệ thuật diễn xướng ca trù từ mô hình giáo phường truyền thống sang mô hình câu lạc bộ đương đại.
  • Về thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh tổng thể và dữ liệu khảo sát thực địa chi tiết về 17 câu lạc bộ, giáo phường, nhóm ca trù đang hoạt động tại Hà Nội.
    • Khai thác khối tư liệu phỏng vấn sâu với hơn 60 nghệ nhân, nghệ sĩ và nhà nghiên cứu, lưu giữ các tri thức nghề nghiệp của thế hệ nghệ nhân cuối cùng.
    • Chỉ rõ các ranh giới kỹ thuật giữa biến đổi phù hợp nhằm bảo tồn di sản và biến đổi sai lệch làm tổn hại bản sắc truyền thống.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Bảo tồn kỹ thuật diễn xướng cốt lõi: Yêu cầu các cơ sở đào tạo và câu lạc bộ chú trọng dạy hát khuôn, đàn khuôn trước khi phát triển lối hát hàng huê; bảo tồn các kỹ thuật đặc thù như hát hơi trong, láy chìm, nảy hạt, ngón chùn, ngón mượn.
  2. Khôi phục không gian diễn xướng phù hợp: Ưu tiên tái lập không gian thính phòng quy mô nhỏ, giữ khoảng cách gần giữa người hát, người đàn và người nghe; hạn chế việc lạm dụng âm thanh điện tử khuếch đại trên sân khấu lớn.
  3. Khôi phục văn hóa cầm chầu: Tổ chức các lớp hướng dẫn quy cách đánh trống chầu cho người yêu thích ca trù, khôi phục vị thế thẩm định nghệ thuật của quan viên.
  4. Hoàn thiện chính sách quản lý: Nâng cao chất lượng chuyên môn của hội đồng giám khảo tại các kỳ liên hoan ca trù; thực hiện chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với các nghệ nhân cao niên nắm giữ bí quyết nghề nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát không gian chủ yếu trên địa bàn Hà Nội mở rộng trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2021; chưa tiến hành khảo sát sâu toàn diện các câu lạc bộ ca trù tại các tỉnh thành khác như Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh đồng đại về sự biến đổi ca trù giữa trung tâm Hà Nội với các vùng nôi ca trù nông thôn thuộc đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
    • Nghiên cứu cơ chế kinh tế hóa di sản và các mô hình kết hợp ca trù với công nghiệp văn hóa trong bối cảnh phát triển đô thị hiện đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên: Chuyên ngành Văn hóa dân gian, Văn hóa học, Âm nhạc học, Quản lý văn hóa và Nghệ thuật học.
    • Giảng viên, ca nương, kép đàn: Các cơ sở đào tạo nghệ thuật chuyên nghiệp như Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, các trường cao đẳng, đại học văn hóa nghệ thuật.
    • Cán bộ quản lý văn hóa: Các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Di sản văn hóa, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội trong việc xây dựng chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Hệ thống thuật ngữ nhà nghề, tiêu chuẩn kỹ thuật phát âm và nguyên lý cấu tạo phách, đàn đáy tại Chương 1 và Chương 2.
    • Bảng tổng hợp thực trạng 17 câu lạc bộ ca trù Hà Nội và các phân tích về lỗi kỹ thuật diễn xướng tại Chương 3 và Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao nghệ thuật hát ả đào còn có tên gọi là "Ca trù"?

Theo sách Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, ngày xưa tại các đình đền có tục lệ dùng thẻ tre vót nhẵn dài khoảng 20 cm (gọi là trù) để thay cho tiền mặt khi thưởng người hát. Trong cuộc hát thờ, mỗi khi đào nương hát hay, quan viên đánh trống thưởng một tiếng chát, chiêng gõ thưởng một tiếng và ném thẻ tre vào chậu đồng. Cuối buổi biểu diễn, người ta đếm thẻ để quy đổi thành tiền mặt chi trả cho đào nương. Do đó, hát ả đào được gọi là ca trù, mang ý nghĩa là "hát thẻ".

2. Kỹ thuật "hơi trong" và "đổ hột" trong thanh nhạc ca trù truyền thống có đặc điểm gì?

  • Hơi trong: Là kỹ thuật lấy hơi và giữ hơi sâu, người hát luôn "mở trong" (nhấc lưỡi gà lên) và "đóng ngoài", miệng chỉ hơi hé mở để âm thanh thoát qua kẽ răng từ từ. Kỹ thuật này gắn liền với phép "láy chìm", ém hơi ép chữ xuống sâu rồi mới đẩy ra, tạo âm thanh trầm ấm từ họng và ngực (hát tận can tràng).
  • Đổ hột (nảy hạt): Là lối sử dụng độ rung của thanh hầu kết hợp ngắt hơi liên tục, tạo chuỗi âm thanh dày, chắc và rõ từng nốt. Đào nương sau khi nhả chữ sẽ khép khẩu hình để đưa hơi lên mũi rung hạt, tạo ra hiệu ứng nháy đúp âm thanh.

3. Cây đàn đáy trong biên chế diễn xướng ca trù có những đặc trưng kỹ thuật nào?

Đàn đáy có dọc đàn dài, thùng đàn bằng gỗ ngô đồng khoét rỗng không có đáy, gồm 3 dây và 16 phím to, cao gắn trên cần đàn. Kỹ thuật chơi đàn đáy tập trung hoàn toàn vào bàn tay trái với các ngón đặc thù: "ngón chùn" (bấm phím và miết dây về phía bầu đàn làm chùng dây để hạ cao độ) và "ngón mượn" (nhấn sâu vào dây để nâng cao độ). Người chơi đàn đáy không sử dụng dây buông mà luôn bấm phím trước khi tay phải gảy.

4. Luận án chỉ ra những biểu hiện sai lệch chính nào của ca trù đương đại tại Hà Nội?

Luận án chỉ ra các biểu hiện sai lệch gồm:

  • Về ca nương: Hát nông "ngoài miệng", thiếu hơi trong, kỹ thuật nảy hạt không đúng quy cách, gõ phách sai lệch cấu trúc khổ bài bản.
  • Về kép đàn: Lạm dụng gảy dây buông, mất dần kỹ thuật bấm ngón chùn và ngón mượn, tiếng đàn thiếu độ sâu.
  • Về người cầm chầu: Người nghe không còn kỹ năng cầm chầu thẩm định, biến người đánh trống thành thành phần phụ họa đơn thuần trong ban nhạc.
  • Về không gian: Sân khấu hóa, đại chúng hóa làm mất không gian thính phòng tĩnh lặng, bài bản bị cắt xén ngắn lại.

5. Cột mốc nào đánh dấu sự phục hưng của nghệ thuật ca trù tại Hà Nội sau năm 1945?

Sau giai đoạn gián đoạn từ năm 1945, mốc phục hưng đầu tiên của ca trù Hà Nội là sự kiện thành lập CLB Ca trù Hà Nội vào giai đoạn 1990 - 1991 (do chính tác giả Lê Thị Bạch Vân sáng lập). Tiếp đó, sự kiện Liên hoan Ca trù Hà Nội mở rộng lần thứ nhất tổ chức năm 2000 đã tạo tiền đề cho sự phục hồi trên diện rộng, dẫn tới việc UNESCO chính thức ghi danh Ca trù là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào tháng 10 năm 2009.


Kết luận

Luận án "Biến đổi của ca trù trong đời sống đương đại tại Hà Nội" của tác giả Lê Thị Bạch Vân là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Văn hóa dân gian, hệ thống hóa toàn diện quá trình biến đổi của ca trù trong giai đoạn 1990 - 2021. Bằng việc kết hợp lý thuyết tính nguyên hợp của folklore và lý thuyết biến đổi văn hóa cùng phương pháp điền dã, phỏng vấn sâu, tác giả đã phác thảo bức tranh thực trạng tại 17 câu lạc bộ, giáo phường trên địa bàn Hà Nội. Công trình phân định rõ nét các chuyển biến tích cực trong việc khôi phục di sản cũng như các biểu hiện sai lệch về kỹ thuật diễn xướng và không gian văn hóa. Các luận điểm và giải pháp do luận án đề xuất cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, đào tạo và định hướng phát triển bền vững nghệ thuật ca trù trong xã hội đương đại.