Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về văn hóa và âm nhạc Mường 1. Khái quát chung về các nghiên cứu văn hóa Mường Từ đầu thế kỷ XX đã có một số học giả người Pháp nghiên cứu về văn hóa Mường, đó là Pierre Grossin với Tỉnh Mường, Hòa Bình (1926)[52] nội dung là những ghi chép tản mạn, khái quát về văn hóa Mường và địa danh Hòa Bình.
Bên cạnh đó không thể không nhắc đến Jean Cuisinier với Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học (1948)[37], một công trình nghiên cứu dân tộc chí đồ sộ về Địa lý nhân văn và Xã hội học người Mường những năm trước Cách mạng tháng 8/1945. Sau năm 1945, các học giả Việt Nam đã thực hiện nhiều nghiên cứu về văn hóa Mường, như Bùi Văn Kín, Mai Văn Trí, Nguyễn Phụng với Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình (1972)[42]; UBND huyện Tân Lạc với cuốn Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi (1988)[96]; Trần Từ với Người Mường ở Hòa Bình (1996)[95] và các bài viết sau này ông được tập hợp trong tuyển tập Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người (2020)[9]. Gần đây có các nghiên cứu như Văn hóa Hòa Bình thế kỷ XX (2000)[75]; Địa chí Hòa Bình (2005)[88]; Địa danh lịch sử, văn hóa, du lịch và thương mại Hòa Bình (2007)[97]. Những công trình này đã góp phần khắc họa diện mạo của văn hóa Mường qua việc cung cấp những thông tin phong phú, đồ sộ về các phong tục và thực hành văn hóa độc đáo, tiêu biểu cùng các hệ giá trị về tinh thần, vật chất trong văn hóa Mường.
Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu không chỉ thực hiện khảo sát, mô tả văn hóa Mường mà thường gắn với bàn luận về những vấn 11 đề đặt ra trong thời đại hiện nay như: tái nhận thức về giá trị văn hóa truyền thống Mường, biến đổi văn hóa Mường dưới tác động của xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa v. đó là các công trình như: Văn hóa dân tộc Mường - Kỷ yếu hội thảo văn hóa dân tộc Mường tại Hòa Bình - Tháng 9 - 1993 (1995) [67]; Văn hóa người Mường huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình (2009), Hoàng Hữu Bình (chủ biên)[34]. Đi sâu vào các lĩnh vực và khía cạnh của văn hóa Mường có các công trình và luận án tiến sĩ như: Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình, luận án tiến sĩ Nhân học [24]; Nguyễn Thị Kim Hoa (2018), Văn hóa gia đình người Mường ở Hòa Bình, luận án Tiến sĩ Văn hóa học [30]. Các nghiên cứu này góp phần làm rõ diện mạo, giá trị, và sự biến đổi của văn hóa trong các lĩnh vực, khía cạnh được quan tâm.
Quá trình thu thập, tổng hợp các tài liệu này giúp cho NCS biết được một số tác động tạo nên sự biến đổi chung trong văn hóa Mường hiện nay, tiêu biểu là xu hướng hội nhập, giao lưu, tiếp biến văn hóa, sự chi phối của kinh tế thị trường và tác động của phát triển khoa học kỹ thuật trong xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chúng tôi tham khảo và kế thừa các nghiên cứu gần đây về bản sắc văn hóa Mường của Lương Quỳnh Khuê (chủ biên) (2008), Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay (qua khảo sát văn hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình) [40], và Nguyễn Tuệ Chi (2015), Bản sắc tộc người, di sản văn hóa và du lịch: Nghiên cứu trường hợp người Mường và người Thái ở Hòa Bình [10], luận án Tiến sĩ Văn hóa học. Công trình nghiên cứu của tác giả Lương Quỳnh Khuê mang lại góc nhìn tổng quát về bản sắc văn hóa Mường và xu hướng biến đổi trong thời đại hiện nay, trong đó có những biến đổi tích cực như “Xu hướng tôn vinh những giá trị đặc sắc của văn hóa Mường trong xã hội Việt Nam hiện đại”[40, tr. 133], “Xu hướng tước bỏ những gì đã 12 trở nên lỗi thời cùng những đổi thay tất yếu do nhu cầu mới của cuộc sống” thể hiện trong trang phục, nhà ở, tín ngưỡng, phong tục tang ma, cưới xin [40, tr.135 - 141], và cả những biến đổi tiêu cực như “xu hướng lãng quên - tự đánh mất dần những giá trị vốn có của văn hóa Mường”.
Công trình của tác giả Nguyễn Tuệ Chi lại mang đến một góc nhìn thời đại về sự tồn tại của bản sắc văn hóa Mường từ góc độ chính trị với chủ trương “bảo tồn có chọn lọc” [10, tr. 110], trong phát triển du lịch với sự chi phối của truyền thông, các công ty du lịch. Những tác nhân trên đã tạo nên xu hướng biến đổi “tạo dựng bản sắc tộc người” thông qua những sáng tạo mới, vay mượn và pha trộn các yếu tố văn hóa [10, tr. Các nghiên cứu về dân ca Mường Người Mường ở Hòa Bình có một kho tàng dân ca rất phong phú, được sử dụng ở nhiều bối cảnh khác nhau trong đời sống của họ.
Căn cứ theo sách Địa chí Hòa Bình (2005) tác giả luận án thống kê được các thể loại dân ca Mường như sau: - Hát Xắc bùa: dùng trong phong tục Xắc bùa chúc tết. - Hát thường rang (còn gọi là rằng thường, hoặc xường): dùng trong các dịp vui, để chúc mừng thành công của mùa vụ nông nghiệp, đám cưới hay mừng nhà mới. - Hát bộ mẹng (nghĩa đen là “nói miệng”): một thể loại hát giao duyên nam nữ, ở nhiều không gian tự do và ngẫu hứng như trong bữa ăn, đám hội, bên bếp lửa. - Hát lời thương: cũng là một thể loại hát giao duyên nam nữ, khác với Hát bộ mẹng, nó có sẵn một số khuôn khổ lời hát nhất định.
- Hát ví (hát bí): là thể loại dân ca trong sinh hoạt hàng ngày, cũng là hình thức đối đáp nam nữ, dùng những lời lẽ ví von mượn cảnh, mượn lời để chuyển tải những nỗi lòng của mình với đối phương. 13 Ngoài ra, còn có một số làn điệu dân ca khác như: hát ru (dùng để ru trẻ nhỏ), hát Mỡi (dùng trong thực hành tín ngưỡng Mỡi), hát đồng dao của trẻ em khi chúng chơi đùa, hoặc đôi khi sử dụng trong những trò chơi để tăng thêm sự vui nhộn, hấp dẫn [88, tr. Nghiên cứu sớm nhất về dân ca Mường có lẽ là cuốn sách Dân ca Mường (Hòa Bình)(1960) của nhóm tác giả Quách Giao, Văn Quỳnh, Thanh Sơn, Bùi Thiện, Thương Diễm [22]. Sách có dung lượng 386 trang, trong đó dành 37 trang giới thiệu khái quát về tộc người và các thể loại dân ca Mường.
Phần nội dung chính dành 315 trang ghi lại lời hát dân ca (tiếng Mường, tiếng Việt). Phần phụ lục có bản chép nhạc của 07 bài dân ca và 02 bài cồng chiêng. Gần đây còn có cuốn sách đồ sộ Dân ca Mường (2003) của Bùi Thiện, ngoài phần giới thiệu, chú giải và lời cảm ơn, sách dành gần 700 trang ghi chép lại các lời ca bằng tiếng Mường, có dịch nghĩa sang tiếng Việt [84]. Mo1 là một thể loại diễn xướng tại lễ tang Mường, chứa đựng trong đó những câu chuyện thần thoại, quan niệm về vũ trụ quan và tư tưởng nhân văn của người Mường.
Nghiên cứu về Mo Mường đã được các học giả địa phương thực hiện cách đây vài chục năm, tiêu biểu như Trương Sỹ Hùng với luận án Phó tiến sĩ Văn học Sử thi thần thoại Mường (1991) [33]. Các công trình nghiên cứu, sưu tầm Mo Mường thường có dung lượng lớn, tiêu biểu như 02 cuốn sách được xuất bản gần đây là Mo Mường Hòa Bình (2010), dày 1519 trang, khổ 19 x 27cm [98], và Đẻ đất, đẻ nước và phong tục đạo lý nhân văn Mường (2015), dày 1332 trang, khổ 18 x 26cm [86]. Chỉ riêng dung lượng của những tài liệu này đã cho thấy sự đồ sộ, phong phú của Mo Mường. Đáng chú ý là trong cộng đồng nó không được ghi chép thành văn bản, chỉ lưu giữ trong trí nhớ của các thầy Mo mà thôi.
1 Mo Mường không có giai điệu cụ thể, sự ngâm nga trong thực hành Mo phụ thuộc phần lớn vào thầy Mo. Người Mường không gọi là “hát Mo”, nhưng cũng không gọi là “nói Mo” hay “đọc Mo”, nó là một hình thức diễn xướng, vì thế NCS chọn khái quát tư liệu về Mo ở phần này. Các nghiên cứu về nhạc khí và khí nhạc Mường1 *Trống đồng và cồng chiêng Trống đồng và cồng chiêng là hai nhạc khí cổ truyền độc đáo được các nhà khảo cổ học, sử học công nhận là “tạo vật tiêu biểu gắn với thời kỳ văn hóa Đông Sơn và lịch sử của người Mường” [3]. Jean Cuisinier trong Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học đã dành 09 trang viết về “Những chiếc trống bằng đồng hun” và “Truyền thuyết về nguồn gốc trống đồng”.
Bà cho biết trống đồng là vật sở hữu gia truyền của gia đình nhà lang và “không một gia đình nông dân nào, dù là gia đình giàu có nhất trong làng, hoặc dù là người kỳ hào to nhất, cũng không bao giờ được dùng nó” [37, tr. Các nghiên cứu sau này cũng chỉ ra rằng trống đồng từng là biểu tượng cho quyền lực và đẳng cấp quý tộc của nhà lang Mường, chỉ nhà lang mới có quyền sử dụng trống đồng. Nó được dùng trong các nghi thức tín ngưỡng quan trọng: trong lễ hội của làng, trong đám tang của chủ sở hữu nó. Trống đồng Việt Mường2 chỉ được sử dụng khi có người đứng đầu Mường mất đi hay mỗi khi có việc đại sự: tế thần, cầu mưa, tang lễ… Trống đồng còn là một sản phẩm đặc biệt biểu hiện uy quyền, đại diện cho quyền lực chính trị cũng như sự giàu sang, quý phái của chủ nhân [88, tr.
Về phương thức tạo âm thanh đối với trống đồng, một số tài liệu phỏng đoán rằng nó được “dùng những dùi dài dộng thẳng từ trên xuống mặt trống” [46, tr. 28] hay là “thả một bó que nhỏ, dài bằng gỗ hoặc bằng sắt xuống mặt trống” [17, tr. Về bài bản, tiếc rằng trống đồng thuộc về một thời xa xôi trong lịch sử, cho nên chỉ có thể khẳng định nó từng được sử dụng để tạo ra âm 1 Nhạc khí: là công cụ để tạo ra âm nhạc một cách trực tiếp (tương tự như vũ khí); Khí nhạc: là âm nhạc được tạo ra từ các nhạc khí. 2 Nhóm tác giả gọi trống đồng của người Mường là trống Việt Mường để phân biệt với trống đồng của các tộc Việt trong nhóm Bách Việt ở Đông Nam Á cổ đại.