chương 1 Người Chăm đã tiến hành một cuộc hành trình dài để xây dựng nền văn hóa Chăm, nền văn hóa rực rỡ, kết tỉnh giá trị văn hóa tộc người rõ nét. Ngay từ buổi. đầu sơ khai họ đã sáng tạo nên một quốc gia riêng, một nền văn hóa mang bản sắc riêng trong cơ tầng văn hóa Việt Nam. Họ đã để lại những kinh nghiệm quý báu trong sản xuất, trong giao thương buôn bán với các nước trong khu vực.
Sống trên dải đất hẹp ngang, khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cần của vùng duyên hải Nam Trung Bộ, người Chăm đã hun đúc cho mình tính cách mang đậm chất bản địa. Đó là đức tính cương nghị, cứng rắn, thượng võ và có phần hiếu chiến, điều này được minh chứng qua nhiều lần Chămpa tiến quân xâm chiếm Đại Việt. Vì thế, bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ, trên vùng đất này cũng diễn ra sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa văn hóa Đông Sơn và văn hóa Sa Huỳnh, giữa Đại Việt 14 Am. Chương 2 TRUYỆN KE DÂN GIAN TRONG ĐỜI SÓNG VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CHĂM _ Nghiên cứu văn học dân gian là một vấn đề được lưu tâm từ khá lâu.
Bởi vì từ văn học dân gian người ta có thể cảm nhận được bản sắc văn hóa tộc người một cách bình dị, mộc mạc, chân thành với tình yêu với vạn vật và con người trong cuộc đời được biểu hiện dung dị nhất. Văn học dân gian chứa đựng những giá trị truyền thống, lịch sử, tri thức của cả một dân tộc qua biết bao thăng trầm. Văn học dân gian được ra đời trong môi trường lao động tập thé, được trải nghiệm qua cuộc sống tập thể, sinh hoạt văn hóa tập thể của những người lao động bình thường. Những lời thơ, câu hát chan chứa bao ân tình, cảm xúc có tác dụng thúc đây sức mạnh tập thể làm cho hiệu quả lao động tăng cao.
Không những thế văn học dân gian còn là kho lưu trữ những giá trị văn hóa dân gian của một tộc người. Nó giống như một người thư kí của thời đại ghi lại những sự kiện, những nét văn hóa đặc sắc trong các pho truyền thuyết, các bộ sử thi và kho tàng ca dao dân ca. Có thể hình dung văn học dân gian giống như một cái cây đại thụ được bồi đắp qua biết bao nhiêu thế hệ mà lớn lên.Thế nên, để hiểu rõ về nền văn hóa các dân tộc, các nhà nghiên cứu không chỉ tiếp cận dưới góc độ lịch sử, xã hội, khảo cổ học của tộc người ấy mà còn dựa trên những bằng chứng mà văn học dân gian cung cấp. Những biểu tượng văn hóa an chứa trong văn học dân gian chính là cách thể hiện của tác giả dân gian, của người sáng tạo ra nền văn hóa dân tộc.
Tìm ra được những tín hiệu văn hóa trong truyện ké dân gian của một tộc người sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ hơn về những nét đặc sac trong văn hóa của tộc người đó. Không nằm ngoài quy luật, dân tộc Chăm cũng đã gửi gắm những niềm vui nỗi buồn, những tâm tư nguyện vọng của họ trong những câu truyện ké dân gian. Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inrasara đã từng nhận định rằng: Dân tộc Chăm vốn yêu văn chương và nghệ thuật. Bằng chứng là trong bat kì c¿e sách nào của bat kì gia đình nào mà còn lưu trữ được đến ngày nay đều có mặt một vài ba tác phẩm van chương.
Họ coi văn chương như món ăn tỉnh thần của mọi thành phần xã hội, từ giai cấp Paseh (giai cấp tu sĩ Bàlamôn) tới người nông dân chân nắm tay bùn, từ thành phần Aw Kauk (áo trắng — ám chỉ giới tu sĩ) như Acar, Mudwon. Đến lớp dân thường (gaheh) và cả ở nam lẫn nữ giới. Và mới đây thôi, trong xã hội Chăm còn tồn tại một nghề viết chữ, chép thơ được quần chúng lao động chân trọng như một nghề cao quý [18; 26]. Như vậy, chúng ta không chỉ tìm thấy “tâm hồn Chăm” (chữ dùng của Inrasara) trong những công trình kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán đặc sắc mà nó còn ấn chứa trong mỗi câu truyện, mỗi vần thơ mà họ truyền dạy lại cho con cháu.
Thế nên, dé hiểu rõ hơn về truyện kể dân gian Chăm, cụ thể là những dấu ấn văn hóa 4n chứa trong đó ta cần phải hiểu được thế nào là truyện kể dân gian, vai trò và vị trí của nó đôi với đời sông tộc người.1 Vai trò truyện kê dân gian trong văn hóa tộc người Chăm Văn học dân gian vừa là một bộ phận của văn học dân tộc, vừa là một bộ phận của văn hóa dân gian. Ở trên phương diện văn học, cả văn học dân gian và văn học viết cùng là những sáng tạo nghệ thuật tinh than và dùng ngôn ngữ làm phương tiện truyền tải. Tuy nhiên, văn học dân gian dùng ngôn ngữ nói, còn văn học viết dùng ngôn ngữ văn bản. Hai bộ phận văn học cùng song song tồn tại và làm giàu thêm kho tàng văn học quý báu của dân tộc ta.
Xét trên phương diện văn hóa dân gian, văn học dân gian là một trong nhiều yếu tế văn hóa phi vật thể. Nó có những điểm gần gũi với tín ngưỡng, phong tục, luật tục. Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính cũng đã khẳng định rằng: “Văn học dan gian là thành tố của văn hóa, có nhiều lợi thế trong việc phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc, thể hiện cách cảm lỗi nghĩ của dân tộc” [19; 94]. Mỗi một tộc người đều có những câu chuyện dân gian riêng, trong kho lưu trữ đó đã ghi lại quá trình “vận hành” của tộc người minh.
Đó là những câu chuyện về nguồn gốc loài người, nguồn gốc vũ trụ, câu chuyện về các vị anh hùng dựng nước, giữ nước. Tat cả giống như một kho tư liệu quý báu để các nhà nghiên cứu tham khảo. Nhắc đến các nhân vật lịch sử người Việt có những câu chuyện về vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu.người Tày có An Dương Vương, Nùng Trí Cao. người Chăm có các vị vua (Ppo: Ngài) được thần thánh hóa như Ppo Rome, Ppo Bin Swor.Những câu chuyện về nhân vật lich sử đó không đơn thuần chỉ là những hình tượng lí tưởng trong văn học mà còn được coi là nguôn dã sử.
SPALL [SSeS ie _ Chính vì thế, khi tim hiểu về đề cương chiến lược nghiên cứu chức năng văn hóa tộc người của văn học dân gian theo các thể loại của Chu Xuân Diên, tác giả Hà Thị Thu Hương đã đưa ra nhận định: Chu Xuân Diên đã phác họa chức năng văn hóa tộc người của các thể loại văn học dân gian. Ông cho là chức năng văn hóa tộc người của thần thoại, truyền thuyết, sử thi dân gian bộc lộ trong các hoạt động có sử dụng thần thoại, truyền thuyết hoặc có nền táng lí thuyết là thần thoại, truyền thuyết như các phong tục và nghỉ lễ lịch tiết (nghi lễ ma thuật và nghi lễ nông nghiệp); lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo, các nghỉ lễ “chuyên tiếp” (Nghi lễ trưởng thành, hôn nhân, tang lễ); các nghi lễ ma thuật khác. Đối với truyện kể dân gian như truyện cỗ tích, truyện ngụ ngôn cần phân tích các sinh hoạt kể chuyện dân gian để làm nỗi bật biêu hiện tộc người của các chức nang ma thuật, khuyên giáo và giải trí là của các truyện dân gian. Đối với tục ngữ, câu dé và các công thức hành ngôn khác (câu phù phép, ma thuật, câu thé.), ông nhấn mạnh chức năng “lập pháp” của tục ngữ và.
các biến dạng chức năng của nó (luật tục, hương ước). Chức năng hướng dẫn dư luận và thế ứng xử của các thành viên trong cộng đồng, tổng kết các tri thức về tự nhiên và xã hội. Chu Xuân Diên khái quát một số chức năng tộc người của các loại dân ca: các loại lao động có sử dụng bài hát lao động và biểu hiện của chức năng tô chức và tăng cường hiệu quả lao động trong các sinh hoạt lao động của các tộc người. Dân ca trữ tình sinh hoạt: hát ru, hát trò chơi với chức năng rèn luyện “kỹ năng”; dân ca tình yêu, hát giao duyên và chức năng thực hành phong tục nghỉ lễ của giao tiép nam nữ và hôn nhân gia đình.
Hướng phân tích chức năng văn hóa tộc người của văn học dân gian theo từng thê loại rât đáng nghiên cứu và vận dụng tuy mới chỉ là những quan sát ban đầu, ở dạng đề cương học thuật cần được hoàn chỉnh, bổ sung thêm bằng nghiên cứu kỹ từng thé loại và tính đến đặc trưng chuyển hóa thâm nhập lẫn nhau của các thé loại [15; 40]. Mỗi thể loại văn học dân gian được ông nêu lên những chức năng riêng đối với văn hóa tộc người. Đồng thời, ông cũng đưa ra một nguyên lí chung là: “Chức năng văn hóa tộc người không chỉ thể hiện trong sự hình thành và củng cố ý thức văn hóa tộc người cũng như biến đổi lịch sử - xã hội là nguyên nhân của sự đa dạng về cấu trúc chức năng tộc người cũng như sự biến đổi, chuyển hóa các dạng thức thể loại khi có sự biến đổi, chuyển hóa của các cấu trúc chức năng — tộc ngudi. Có thé thấy rằng, văn học dân SERS | Wee | gian là kho tư liệu quý báu đối với mỗi dân tộc.
Nó đã lưu giữ và tích hợp nhiều dấu ấn văn hóa trong suốt thời gian tồn tại của một dân tộc. Người Chăm cũng có một kho tàng văn học dan gian phong phú, độc đáo để lưu giữ những dau tích văn hóa và lịch sử của dân tộc từ thuở sơ khai. Kho tàng văn học đó được nhà nghiên cứu Inrasara chia làm hai phần: một là, văn học dân gian Chăm (bao gồm: Panwơc yaw, Panwơc padau: Tục ngữ, câu dé: Panwoc padit, Kadha rinaih dauh: Ca dao, đồng dao; Pwơc jal: Hát vãi chai; Damnuy: Tung ca hay bài ca lịch sử; Damnuy, dalikal: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích.) và văn học viết Chăm (bao gồm: Akayet — sử thi; Trường ca trữ tình; Thơ thế sự; Gia huấn ca; Thơ triết lí. Mỗi tác phẩm văn học dân gian được coi như tiếng nói, tâm hồn của người Chăm gửi gam trong đó, tiếng nói của hàng trăm, hàng ngàn thế hệ quần chúng lao động — qua bao thế kỉ sống và chiến đấu, lao khổ và chịu đựng.
Những câu chuyện kể, lời ca, câu tục ngữ được họ truyền day cho con cháu nghe dé thế hệ sau mãi ghi nhớ. Chính vi thế, trong mỗi tác phẩm truyện ké dân gian mà người Chăm để lại đều thé hiện những phong tục tập quán, lễ nghị, lịch sử của dân tộc mình.