CHƯƠNG 1 CƠ SO CUA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA 1. Một số khái niệm * Tôn giáo “T6n giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cô đến kim, từ Đông sang Tây. Thuật ngữ “tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung.
Khi khái niệm nay trở thành phố quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác. Vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới. “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và “religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, dé chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng cua đạo Kitô.
Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành - tách ra từ Công giáo - trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu và sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhăm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới. Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII vào sau đó du nhập vào Trung Hoa.
Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế ky XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hoàn toàn khác: nó chỉ cho đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật). Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăng trên các báo, nhưng do ky húy của vua Thiệu Tri nên được gọi là “Tôn giáo”. Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo. Viết về khái niệm tôn giáo trong mối quan hệ khái niệm tín ngưỡng, tác giả Nguyễn Đức Lữ cho rằng: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi thé giới tự nhiên.
Còn tôn giáo là tín ngưỡng của những người cùng chung một tổ chức có hệ thống giáo lý, giáo luật và lễ nghĩ”.8] Trong Từ điển Tiếng Việt: “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận con người. Con người phải phục tùng, tôn thờ”. 1011] Trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [34]. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm tôn giáo được thể hiện trong luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
* Tín ngưỡng 10 Khái niệm tín ngưỡng được bàn đến trong nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và thường được đặt tương quan trong mối quan hệ với khái niệm tôn giáo. Trong Từ điển Tôn giáo, tín ngưỡng được hiểu: “Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí; lực lượng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tượng là “Trời”, “Phật”, “Chúa”, “Thánh”, “Thần”, hay một sức mạnh hư ảo, huyền bí, vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của người ta, được con người tin là có thật va tôn thờ”. [18] Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn phân tích: “Trong Từ điển Hán - Việt, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa”. Thuật ngữ tín ngưỡng có thé có hai nghĩa.
Khi nói đến tự do tín ngưỡng, người ngoại quốc có thé hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, believe, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance riligieuse). Nếu hiểu tin ngưỡng là niềm tin thì có một phan ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believer theo nghĩa hẹp croyance riligieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cau thành tôn giáo.76] Nhiều nghiên cứu lại nhìn nhận tín ngưỡng như là một hình thức ton tại dạng thấp, chưa hoan chỉnh của tôn giáo: “Trong tình hình cuộc tranh luận về định nghĩa tín ngưỡng và tôn giáo chưa đưa ra một kết luận tương đối được nhiều người chấp nhận, thì sử dụng khái niệm tín ngưỡng như là biểu hiện thấp hơn tôn giáo, trong khi nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo là điều cần thiết”.337] Tuy nhiên về thực tế ở Việt Nam chúng ta thấy giữa tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm giống nhau, tương đồng, nhưng phong phú và có tính độc lập tương đối. Hệ thống tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam vẫn tồn tại song 11 song và còn có sự hội nhập, dung hợp, hòa quyện lẫn nhau, bé sung cho nhau để cùng tồn tại và phát triển. Chính vì thế khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã thê hiện rõ nét sự độc lập tương đối này.
Căn cứ tại mục 1, 2, 3 điều 2 của luật tín ngưỡng tôn giáo số 02/2016/QH14: Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thé hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống đề mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tô tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng: các lễ nghi dân gian tiêu biéu cho những giá tri lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Lễ hội tín ngưỡng là hoạt động tín ngưỡng tập thê được tô chức theo lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng. * Dung hợp tôn giáo, tín ngưỡng Dung hợp là một động từ với nghĩa có thé được hiểu: Theo sách Đại từ điển tiếng Việt, “Sự dung hợp là dung hòa với nhau trong một thé thong nhất”.554] Theo sách Từ điển tiếng Việt, “Sự dung hợp là hòa vào nhau để hợp thành một thê thống nhất”.427] Tuy nhiên dung hợp tôn giáo, tín ngưỡng thì chưa hình thành khái niệm, mặc dù hiện tượng này đã có từ rất lâu trong thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo.
Trong luận văn chúng tôi hiểu theo cách hiểu của tác giả Phan Nhật Trinh: dung hợp văn hóa và dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo là: Quá trình năng động trong đó một nền văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo) diễn tiến dưới ảnh hưởng của một văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo) khác: văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo) thống trị. Và chúng được hòa hợp trong một thê thống nhất dé tồn tại, phát triển [Xem 41]. 12 Đan xen, hòa đồng, khoan dung, dung hợp trở thành một trong những đặc điểm của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Về đặc điểm này trong cuốn sách Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam có phân tích: Đặc điểm này xuất phát từ đặc tính của người Việt Nam là cởi mở, bao dung, chứ không hẹp hòi, kỳ thị, khéo kín.
Người Việt sẵn sàng mở lòng chấp nhận các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau miễn là không vi phạm đến lợi ích quốc gia, và đi ngược lại truyền thống văn hóa Dân tộc. Các tôn giáo từ các quốc gia khác nhau như Đạo giáo, Phật giáo, hay tôn giáo từ phương Tây du nhập vào Việt Nam,. thì vẫn có thé cùng nhau chung sống, song song tồn tại một cách hòa bình với tín ngưỡng bản địa mà không xảy ra những cuộc chiến tranh tôn giáo. Và: “Khái quát lại, tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam là hòa đồng, đan xen, nương tựa, hỗ trợ lẫn nhau.
Truyền thống “Tam giáo đồng nguyên”, “Ngũ chi hợp nhất” được kết tinh trong đạo Cao Dai. Những tôn giáo độc thần như Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo du nhập vào nước ta cũng như tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo ít nhiều đều có tính đan xen, hòa đồng dung hợp với nhau và với tín ngưỡng bản địa. Nhờ có tính khoan dung, hiếu hòa của tôn giáo đã khiến cho một đất nước da Dân tộc và đa tôn giáo như Việt Nam vẫn giữ được truyền thống đoàn kết toàn dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo” [25, tr. Tín đan xen, hòa đồng, dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam theo tác gia Nguyễn Đức Lữ thé hiện ở các mặt: + Trên điện thờ các tôn giáo có sự diện diện đối tượng thờ cúng của các tôn giáo khác nhau + Đối với người Việt Nam rất khó dé xác định tiêu chuẩn tôn giáo cụ thé của họ.
Người Việt có thé đồng thời tham gia sinh hoạt, thực hiện nghi lễ của nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. 13 + Về phía giáo sĩ, có sự am hiểu và trong đời sống thực hiện tu tập thé hiện sự ảnh hưởng, pha trộn nhiều yếu tố của các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau: “Ở Việt Nam có nhiều Tăng, Ni, phật tử thông thạo giáo lý Phật giáo, đồng thời cũng am hiểu triết thuyết Không Mạnh và nghiên cứu cả Đạo giáo. Ngược lại, các thầy pháp của Đạo giáo (phù thủy, chiêm tinh, bói toán) cũng không hề bài bác Phật giáo, Khổng giáo. Thực tế nhiều nhà Nho nương thân trong chốn cửa thiền và cũng không ít tăng ni có tư tưởng yếm thế, tu tiên”.81] Một biểu hiển rõ nét của sự dung hợp tôn giáo ở Việt Nam là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên thời Trần hay là sự dung hợp nhuan nhuyén giữa ba tôn giáo: Nho - Phật - Dao trong quá trình phát trién.
Khái quát chung về truyền thống dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam 1. Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm.