Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VIỆC TÌM HIEU HÌNH TƯỢNG MA NU TRONG TRUYEN KY MAN LUC 1. Truyền kỳ và các đặc trưng thé loại Truyền kỳ vốn là một loại hình tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc, được phát triển từ các truyện chí quái và truyện kỳ ảo thời cô đại, được hoàn thiện, phát triển thịnh hành dưới thời nhà Đường. Truyện sử dụng các yếu tố kỳ ảo làm chất liệu dé xây dựng nên các tình tiết và để phản ánh hiện thực xã hội, đời sống con người. Theo từ điển Tiếng Việt bộ mới, truyền kỳ có nghĩa là: “Một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện ké dan gian, sau được các nha van nâng lên thành văn chương bac học, sử dụng những môtíp kỳ quái, hoang đường, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế, phần lớn là truyện tình, để gợi hứng thú cho người đọc.
Phần lớn các truyện truyền kỳ đều là truyện ngắn, có khi là từng truyện riêng rẽ, có khi tập hợp nhiều truyện thành một tập, và chủ đề cũng không nhất thiết gắn bó chặt chẽ với nhau. Sự tham gia của các yếu tố thần kỳ vào câu chuyện không phải là do những nhân vật có phép lạ như kiểu trời, but, thần tiên,. trong truyện cô tích thần kỳ, mà phần lớn ở ngay hình thức “phi nhân tính” của nhân vật (ma quỷ, hồ ly, vật hóa người,. Tuy nhiên trong truyện bao giờ cũng có nhân vật là người thật và chính những nhân vật mang hình thức “phi nhân” thì cũng chỉ là sự cách điệu phóng đại của tâm lý, tính cách của một loại người nào đấy, và vì thế truyện truyền kỳ vẫn mang đậm yếu tố nhân bản, có giá trị nhân bản sâu sắc” [17, tr.
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, truyền kỳ có ảnh hưởng và tiếp thụ một số thành tố dân gian từ các mô thức, mô tip và kế thừa các dé tài, cốt truyện dé rồi phát triển thành các tác phẩm văn học viết có tính nghệ thuật hoàn chỉnh, có kết cau đầy đủ và lời bình của tác giả rõ rệt. Trong truyện truyền kỳ, hệ thống các nhân vật người thường được phát triển xây dựng song song với các nhân vật kỳ ảo, có tính chất siêu nhiên, dé từ đó nói lên các vấn đề thực tế của đời sống. Với các thành tựu rực rỡ của mình ở quê nhà như sự ra đời của các tác phẩm Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Tién Đăng tân thoại của Cù Huu, truyền kỳ được du nhập vào các quốc gia đồng văn, đồng chủng khác ở Châu Á, trong đó có Việt Nam. Ở thời kỳ đầu, truyện kì vào Việt Nam chỉ mang các yếu tô kỳ lạ, chưa thoát khỏi các mô thức dân gian, chỉ đến sau này, với sự xuất hiện của Truyén kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ va Thánh Tông di thảo được tương truyền là của Lê Thánh Tông, truyền kỳ mới đạt tới đỉnh cao của nó cũng như tính hoàn thiện về nội dung cũng như nghệ thuật.
Tiếp bước các thành công đó, các tác phẩm khác ra đời tạo nên sự đa dạng cho bộ mặt văn học như 7xuyên kỳ tan pha của Đoàn Thị Điểm, Tân truyền kỳ lục của Phạm Qúy Thích. Mặc dù tiếp nhận và ảnh hưởng của thé loại văn học Trung Quốc, nhưng đo dấu ấn văn hóa dân gian trong thể loại rất lớn, nên khi du nhập vào Việt Nam, truyền kì đã có những nét đặc sắc riêng biệt mà theo GS.Nguyễn Đăng Na: “Tuy là văn học viết, nhưng truyền kì dựa trên cơ sở truyền thống tự sự dân gian, khai thác các mô típ, nhân vật, cốt truyện, thậm chí cả lối kế dân gian. Cho nên, muốn tìm nét đặc trưng hoặc so sánh ảnh hưởng của truyền kì giữa các dân tộc trong khu vực đồng văn, một nguyên tắc bắt buộc là phải xuất phát từ kho tàng truyện dân gian của dân tộc đó. Truyền kì lấy yếu tố kì ảo làm phương thức thé hiện nội dung.
Nhung, mức độ của cái kì ảo phụ thuộc vào truyền thống thâm mĩ dân tộc và nhu cầu lịch sử của dân tộc ay. Như vậy, phải bam sát lịch sử và truyền thông thẩm mĩ dân tộc khi nghiên cứu truyền ki của ho” [34]. Về đặc trưng của thé loại, theo GS.Nguyén Đăng Na: “Với đặc điểm dùng hình thức kỳ ảo làm phương thức chuyên tải nội dung, truyện truyền kỳ có sức hap dẫn mãnh liệt mọi lứa tuổi, mọi thé hệ. Đó là thế giới vừa ảo vừa 10 thực, có cả cái thấp hèn và cái cao thượng, có cả ma và thánh, quỷ và tiên,.
đồng thời có cả những sinh hoạt thường ngày, ái ân, tình dục, ghen tuông, đồ ky, lọc lừa,. Như vậy có thé thấy đặc trưng dễ nhận thấy nhất của thé loại truyền kỳ là sự kết hợp giữa yếu tố thực và yếu tố kì ảo. Đã phát triển vượt thoát ra khỏi những ghi chép hoặc truyền thuyết có tính đơn ngẫu, truyền kỳ không thể thiếu một trong hai yếu tổ trên dé tạo ra sự nhận biết cho nó với các thể loại tự sự khác như cô tích, thần thoại hay chí quái. Việc phát triển các yếu tố kì chính là cách tác giả phản ánh hiện thực đời sống một cách kín đáo, tế nhị.
Nhất là khi áp lực của thanh giáo của thời trung đại quản lý và tiết chế hành vi tính dục của con người nên khó miêu tả trực diện, nhà văn trung đại có thé lợi dụng đặc trưng thê loại đó dé gửi gam ý đồ tư tưởng nghệ thuật, quan niệm con người tự nhiên như trường hợp Truyén kỳ mạn luc của Nguyễn Dữ. Ngoài ra, các yếu tố thực không chỉ làm tăng tinh chân thật cho câu chuyện mà còn làm ra tăng tính khách quan và là nền tảng, cơ sở cho sự phát triển của yếu tố ki. Truyền ky còn là một thé loại văn học dung hợp vào trong lòng nó các thể loại văn học khác nhau, kết hợp giữa các tiều loại tự sự và trữ tình như thơ, văn tế, văn van.su dung hợp đó giúp các tác giả dé dang hơn trong việc thể hiện những vấn đề tinh thần hoặc hành động của nhân vật như tâm trạng, các hoạt động tính dục một cách trau chuốt, nghệ thuật, tế nhị, kín đáo. Phát triển ở Việt Nam, truyện truyền kỳ đã ghi những dau ấn đậm nét mà đỉnh cao là Truyền kb mạn luc của Nguyễn Dữ, thé loại và tác phẩm ấy trải qua thời gian vẫn còn giữ nguyên giá trị đến bây giờ.
Khái niệm ma nữ Trong Truyền kỳ mạn lục, các ma nữ xuất hiện với các dạng thức khác nhau như ma, hồn ma, linh hồn Nhị Khanh trong Chuyện cáy gạo, Thị Nghỉ trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Dao Han Than Chuyện nghiép oan 11 của Đào Thị, hoặc tinh hoa, tinh mộc như Đào Nhu Nương và Liễu Nhu Nương trong Chuyện kj) ngộ ở Trại Tây. Đó đều là loại hình nhân vật không thuộc về dương thế, lại thuộc thế giới siêu nhiên, vô hình, mặc dù các khái niệm này khá phô biến trong tiềm thức dân gian nhưng đều là các nhân vật chưa được xác thực theo con mắt khoa học, do vậy với các nhà nghiên cứu sẽ có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương do Thích Viên Giac dịch, định nghĩa về ma được hiểu như sau, ma: “Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là giết hại, làm não hai thân tâm, tổn hại công đức, phá hoại trí tuệ. Ma phiền não: Tham, Sân, Si.
não hại thân tâm. Ma năm 4m (ngũ ấm ma): chấp thủ sắc thân, cảm giác, tri giác, tâm hành và nhận thức là ngã, nên bị năm ấm trói buộc. Ma chết (tử ma): tử thần cắt đứt mạng sống con người làm gián đoạn sự tu tập. Ma trời (thiên ma): là tha hóa tự tại thiên, cõi trời thứ 6 của Dục giới, còn gọi là ma vương, ma ba tuần, chuyên làm trở ngại cho việc tu hành va làm việc thiện.” [13] Theo chúng tôi, các loại ma mà ta đang nhắc tới và cần tìm hiểu rõ ở đây thuộc loại thứ 3 và thứ 4.
Đó là trong con mắt của Nhà Phật, còn theo Tir điển Hán Việt từ nguyên, các trường nghĩa liên quan đến ma được giải thích như sau: Ma: “(thuộc bộ Quỷ, gồm 21 nét) là chữ gọi tắt Phạm ngữ Ma la, có nghĩa là ngăn hại, phá hoại, gọi chung những việc thành thói quen không trừ bỏ được” [25, tr. Yêu tinh: “những vật quái dị linh thiêng thường doa nat hoặc làm hai người” [25, tr.2408] 12 Tinh (bộ mé, 14 nét): “thần linh, phan linh thiêng” [25, tr. Quái (bộ tâm, 8 nét): “lạ lùng, khác thường; Quái vật: đồ vật hay thú vật lạ lùng không may khi trông thấy” [25, tr. Hồn (bộ quỷ, 14 nét): “Phần hồn trong con người, tinh than của con người có thê lìa khỏi thể xác mà vẫn tồn tại mãi mãi” [25, tr.
Theo 7? điển Tiếng Việt của Hoàng Phê các trường nghĩa đó được hiểu là: Ma có hai nghĩa: “Người đã chết, đã thuộc về cõi âm” và “sự hiện hình của người chết, theo mê tin” .746] “Yêu quái: quái vật làm hại người” [43, tr. “Yêu tỉnh: vật tưởng tượng có hình thù quái đị, có nhiều phép thuật và độc ác” [43, tr. “Linh hồn: hồn người chết” [43,tr. Ngoài ra còn có rất nhiều cách định nghĩa về ma, quái, yêu quái.của các nhà nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu ngôn ngữ khác nhau.
Tuy nhiên, xét trên phương diện khảo sát về loại hình nhân vật ma nữ trong giới hạn luận văn này, có thé hiểu chung rằng ma nữ là linh hồn của các phụ nữ đã chết, hoặc yêu khí của họ còn hiển hiện trên trần gian. Cũng có khi là tinh khí lâu năm của các chủng vật biến thành người phụ nữ, có khả năng biến hóa khôn lường, chứa đựng các yếu tố kì di, có tính chất tự do, gây ra những tác động tiêu cực, gây tôn hại tới tinh thần hoặc thể chất của con người. Mặc dù xuất hiện trong 7xuyên kỳ mạn lục, nhưng linh hồn của một số phụ nữ đã chết như Lệ Nương trong Chuyện Lệ Nương, Vũ Thị Thiết trong Chuyện người con gái Nam Xuong.lai có những yếu tô ngợi ca, là biểu tượng cho những người phụ nữ tiết liệt, có khí chất thần linh, được xã hội kính nề, thậm chi lập đền thờ. Do vậy sẽ không phải là đối tượng nằm trong phạm vi khảo sát.
Nhân vật ma nữ trong văn học 1.Trong văn học dân gian Việt Nam Văn học dân gian vốn có ảnh hưởng rat lớn tới thé loại truyền kỳ ngay từ buổi đầu hình thành.