phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, hình ảnh và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng, 8 tiết. 7 luan an Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN NGƢỠNG TRUYỀN THỐNG VÀ TÍN NGƢỠNG TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN ĐẢO KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG 1. Một số vấn đề lý luận về tín ngƣỡng truyền thống 1. Tín ngưỡng Hiện nay, khái niệm tín ngƣỡng đƣợc hiểu theo nhiều hƣớng khác nhau, nhƣng đều thống nhất rằng: tín ngƣỡng là niền tin và sự ngƣỡng vọng của con ngƣời vào các lực lƣợng siêu nhiên, vô hình, huyền bí.
có sức mạnh vô biên, có khả năng tác động và chi phối con ngƣời. Theo Từ điển Hán - Việt, tín ngƣỡng là từ ghép gồm: “tín”, có nghĩa là tin; “ngƣỡng” có nghĩa là ngƣỡng mộ, ngƣỡng vọng. Tín ngƣỡng là tin và ngƣỡng mộ, ngƣỡng vọng vào một thực thể siêu nhiên, thần bí, phi hiện thực. Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn thì cho rằng: “Tín ngƣỡng là niềm tin của con ngƣời vào những điều thiêng liêng, huyền bí vƣợt khỏi thế giới tự nhiên” [72, tr8].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, có định nghĩa về tín ngƣỡng nhƣ sau: “Tín ngƣỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộng đồng con ngƣời ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con ngƣời ấy tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [12, tr 221]. Khi nghiên cứu về quan điểm tôn giáo của Mác, Ăngghen ta thƣờng bất gặp các khái niệm tín ngƣỡng, tín ngƣỡng tôn giáo, tín ngƣỡng Cơ Đốc giáo. Khi đó, tín ngƣỡng đƣợc hiểu theo nghĩa là tín ngƣỡng tôn giáo, “tức là niềm tin vào lực lƣợng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định”. Nhƣ vậy, bản chất của tín ngƣỡng có thể hiểu là niềm tin của con ngƣời vào sự tồn tại, khả năng siêu nhiên của một thực thể nào đó bên ngoài cuộc sống con ngƣời, đƣợc thể hiện thông 8 luan an qua hệ thống các nghi lễ thờ cúng.
Mác cho rằng: “Đời sống xã hội, về thực chất là có tính chất thực tiễn. Tất cả những sự thần bí đang đƣa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều đƣợc giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con ngƣời và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [6, t3, tr12]. Trong đời sống thƣờng ngày, khi đề cập đến tín ngƣỡng ngƣời ta thƣờng liên tƣởng đến những hiện tƣợng xã hội có tính chất linh thiêng, thần bí, thể hiện niềm tin về một thế giới vô hình, về cuộc sống sau khi chết, về sự tồn tại của linh hồn ngƣời chết và sự tác động của lực lƣợng này đối với cuộc sống hiện tại của con ngƣời. Hiện tƣợng này gắn liền với các phong tục, tập quán, truyền thống của một cộng đồng ngƣời hay một dân tộc, nó phản ánh nếp sống, cung cách ứng xử của con ngƣời cũng nhƣ phản ánh lịch sử phát triển văn hóa của cộng đồng dân tộc đó.
Dƣới góc độ tâm lý học, tín ngƣỡng là một hiện tƣợng tâm lý - xã hội thể hiện niềm tin của một cộng đồng ngƣời nhất định về thế giới vô hình, về lực lƣợng siêu nhiên và năng lực chi phối của lực lƣợng này đối với cuộc sống của con ngƣời thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng; quá trình hình thành và phát triển tín ngƣỡng gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng nên nó phản ánh cuộc sống thực tế của cộng đồng ngƣời đó. Dƣới góc độ văn hóa, tín ngƣỡng là hiện tƣợng văn hóa tinh thần phản ánh sự nhận thức của con ngƣời về thế giới xung quanh, về cuộc sống xã hội biểu hiện thông qua những hành vi ứng xử của họ. Dù tín ngƣỡng đƣợc quan niệm nhƣ thế nào và ở cấp độ ra sao thì đều thể hiện một niềm tin - niềm tin vào Chúa, Trời, Phật, Thần, Thánh, ông bà, tổ tiên vào các lực lƣợng siêu nhiên. Nhƣ vậy, đặc trƣng cơ bản của tín ngƣỡng là niềm tin đƣợc xác lập trên cơ sở mối liên hệ giữa con ngƣời với lực lƣợng siêu nhiên mà niềm tin ấy không cần chứng minh gì cả.
Trong khi đó, Luật Tín ngƣỡng, tôn giáo của Nhà nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2016) ghi rõ: “Tín ngƣỡng là niềm tin của con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [37. 9 luan an Nhƣ vậy, “tín ngƣỡng” có thể hiểu là hệ thống giá trị niềm tin mang tính tâm linh được con người tạo ra nhằm gửi gắm những ước vọng tốt đẹp cũng như mong muốn được các thế lực siêu nhiên che chở để tránh được những tai họa hay những nỗi sợ hãi từ thế giới khách quan. Tín ngƣỡng mang nguồn gốc của sự bất lực của con ngƣời trƣớc thế giới khách quan và quy luật của nó do con ngƣời thần thánh hóa các hiện tƣợng ấy thành các thể lực siêu nhiên và tôn thờ. Tín ngưỡng truyền thống Tín ngƣỡng truyền thống là khái niệm để chỉ các hình thức tín ngƣỡng gắn liền với hoạt động văn hóa tâm linh, dân dã của con ngƣời đã có từ lâu đời cho đến nay.
Tín ngƣỡng truyền thống là một trong những loại hình tín ngƣỡng phản ánh rõ nhất đặc trƣng của văn hóa dân tộc, thấm đƣợm đạo lý uống nƣớc nhớ nguồn, củng cố và tăng cƣờng ý thức cộng đồng. Với quan niệm cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn, nên ngƣời xƣa đã thờ rất nhiều thần linh, bao gồm nhiên thần, thiên thần và nhân thần. Tín ngƣỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và ngƣỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền nhân. Tín ngƣỡng dân gian khá phong phú, nó là tâm thức tôn sùng các lực lƣợng siêu nhiên nhƣ: Tôn sùng tự nhiên, những sự vật có liên quan đến sản xuất nông nghiệp nhƣ mặt trời, mặt trăng, mƣa, gió, sấm, chớp, sông, núi, biển…, các loại cây trồng, vật nuôi nhƣ: bầu, ngô, trâu, bò, lợn.
Tôn sùng vật tổ nhƣ: chim, cá, cây… Tôn sùng sự sinh sản nhƣ: sinh thực khí và các hoạt động tính giao. Tôn sùng Mẫu thể hiện các nữ thần, tứ mẫu, thủy phủ, Bà Chúa Xứ và Thiên Yana… Tôn sùng các anh hùng dân tộc, anh hùng địa phƣơng, ngƣời có công lớn với dân với nƣớc: Thánh Gióng, Đức thánh Trần, Bà Trƣng, Bà Triệu, Nguyễn Trung Trực… Ngoài ra, ngƣời Việt còn thờ các dạng thần nhƣ thần Bếp, thần Thổ công, thần Tài…. Tín ngƣỡng, phong tục, tập quán lâu đời và phổ biến nhất của ngƣời Việt là thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ những ngƣời đã mất. Ở các gia đình ngƣời Việt, nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên và việc cúng giỗ, ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân rất đƣợc coi trọng.
Ngoài ra còn có tục thờ Thành hoàng và ngôi đình làng là đặc điểm độc đáo của làng quê Việt Nam. 10 luan an Tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Việt Nam là một tín ngƣỡng có từ rất lâu, nó là một tín ngƣỡng dân gian có nguồn gốc bản địa và bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc và là một hình thức tôn vinh ngƣời phụ nữ làm Quốc Mẫu, Thánh Mẫu, Vƣơng Mẫu… Từ tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng đã hình thành các phong tục tập quán và nghi lễ thờ cúng tự nhiên, thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu và nghi lễ phồn thực. Đó là những nghi lễ và phong tục rất quen thuộc đối với ngƣời Việt khắp nơi trong cả nƣớc. Mỗi loại tín ngƣỡng này đều có nguồn gốc sâu xa từ quan hệ giữa con ngƣời với các đối tƣợng siêu nhiên kia.
Là bởi trong sinh hoạt và lao động, hằng ngày thì thiên nhiêu gắn bó mật thiết và chi phối sự thành bại, tốt xấu đối với việc lao động sản xuất của họ. Đặc điểm của tín ngưỡng Một là, tín ngƣỡng truyền thống của ngƣời Việt đƣợc hình thành từ rất sớm, gắn liền với quá trình tổ chức cuộc sống, lao động, sản xuất hàng ngày. Các nghiên cứu về tín ngƣỡng truyền thống ở Việt Nam cho thấy, các hình thức tín ngƣỡng đã xuất hiện từ ngƣời Việt cổ, thể hiện trực quan qua các hình tƣợng chim Lạc – con Rồng. Hai là, các tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, không kỳ thị, tranh chấp và xung đột lẫn nhau.
Các tín ngƣỡng truyền thống phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa dạng, sự khoan dung, độ lƣợng, nhân ái của ngƣời Việt Nam và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Đây là những yếu tố để ngƣời Việt Nam dễ hòa đồng với nhiều tín ngƣỡng, tôn giáo khác nhau. Ở nhiều nơi, trong cùng một làng, xã, có nhiều ngƣời có tín ngƣỡng khác nhau, hoặc nhóm tín đồ của tôn giáo này sống đan xen với nhóm tín đồ của tôn giáo khác hoặc với những ngƣời không theo tôn giáo và họ sống hòa hợp với nhau trên nền tảng làng, xóm, dòng họ. Ba là, mỗi tín ngƣỡng, tôn giáo mang những nét văn hóa riêng biệt nhƣng đều hƣớng đến Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hƣởng của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên những nét đẹp trong nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc của 11 luan an dân tộc.
Ở Việt Nam thờ cúng tổ tiên, thờ những ngƣời có công với đất nƣớc, dân tộc là tín ngƣỡng mang tính chủ đạo, là nét văn hóa độc đáo, chất keo kết dính trong đời sống tinh thần, tâm linh, xây dựng đoàn kết các dân tộc. Bốn là, trong lịch sử cận, hiện đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động luôn tìm mọi cách lợi dụng các vấn đề liên quan đến tín ngƣỡng, tôn giáo để thực hiện âm mƣu xâm lƣợc, đô hộ nƣớc ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phục vụ cho ý đồ đen tối của chúng. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn sử dụng, lợi dụng những vấn đề của tín ngƣỡng, tôn giáo nhƣ một thứ vũ khí nhằm thực hiện chiến lƣợc "diễn biến hòa bình", phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; với chiêu bài "tự do tôn giáo", "nhân quyền", chúng xuyên tạc, bóp méo đƣờng lối, chính sách tự do tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc ta, âm mƣu tạo ra lực lƣợng và xây dựng ngọn cờ trong tôn giáo hòng lật đổ Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.