đặt vấn đề nghiên cứu về hoa văn trang trí trên các hiện vật mỹ thuật, từ thời Đông Sơn đến các triều đại quân chủ chuyên chế ở nƣớc ta. Thông qua việc mô tả giới thiệu các mô típ trang trí tiêu biểu, tác giả đi sâu giải mã biểu tƣợng của từng loại hoa văn và ý nghĩa của chúng khi đƣợc đặt trong không gian tôn giáo. Ở phần linh vật trang trí trên di tích đƣợc nhắc đến là hình tƣợng Rồng, Phƣợng, Lân, Rùa, Hổ phù và hoa văn cây cỏ. Bằng niềm đam mê và nhận thức của mình, tác giả đã cung cấp cho ngƣời đọc không chỉ là mô tả sự biến đổi của các linh vật và hoa lá qua các thời kỳ mà còn cho biết sự khác biệt về tạo hình linh vật và hoa lá các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn và ý nghĩa của những biểu tƣợng đáng quý ẩn sâu bên trong chúng.
Đây chính là tài liệu giúp cho tác giả luận án có đƣợc nguồn tƣ liệu bổ ích về giải nghĩa biểu tƣợng trang trí trên đồ thờ chất liệu đồng của ngƣời Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, cũng là đối tƣợng nghiên cứu chính của luận án. Năm 2003, tác giả Trần Lâm Biền công bố cuốn sách Đồ thờ trong di tích của người Việt [11]. Năm 2019 cuốn sách này đƣợc tái bản [14]. Nội dung cuốn sách, ngoài những giá trị về mặt tâm linh, còn là những hiện vật mà với sự phân bố của chúng, phần nào đã đánh dấu những chặng đƣờng phát triển lịch sử của tộc ngƣời Việt trong quá trình lao động và đấu tranh để xây dựng và mở mang bờ cõi.
Nghiên cứu về đồ thờ là nhằm phác họa, đánh giá và phần nào “giải mã” một số yếu tố văn hóa nghệ thuật tạo hình trong các di tích cổ truyền của ngƣời Việt ở địa bàn cƣ trú của họ. Qua đó, nghiên cứu cũng tạo cơ sở nhìn nhận về đời sống tôn giáo tín ngƣỡng của ngƣời Việt trong văn hóa Việt Nam: Ở thế kỷ XIX - XX, ngoài bộ tam sự (đỉnh và hai cây đèn) nhiều khi ngƣời ta còn bày trên bàn thờ bộ ngũ sự (thêm hai họ hoa, đồng chất liệu với tam sự, thƣờng bằng đồng). Với chất liệu đồng bộ, bộ tam sự và ngũ sự luan an 18 thƣờng đƣợc thể hiện từng chiếc với nhiều cấp, theo cách nở ra thót vào, nhằm đạt đƣợc hiệu quả về hình khối nhiều hơn là trang trí (nhƣ bộ ngũ sự của đền Quán Thánh là một ví dụ) [12, tr. Cũng ở cuốn sách này khi tái bản năm 2019 tác giả đã hiệu đính: “Ở thế kỷ XIX - XX, ngoài bộ tam sự (bát hƣơng và hai cây đèn) nhiều khi ngƣời ta còn bày trên bàn thờ bộ ngũ sự (thêm hai họ đựng hƣơng, đồng chất liệu với tam sự, thƣờng bằng đồng)… bộ ngũ sự của đền Quán Thánh là một ví dụ)” [14, tr.
Ở phần hiệu đính này chúng tôi thống nhất với cách liệt kê và mô tả các hiện vật thờ của bộ ngũ sự, nhƣng vẫn băn khoăn bởi hầu nhƣ bộ tam sự ở tất cả các di tích chúng tôi tiếp cận đều là bộ đỉnh trầm và hai cây đèn, nếu có bát hƣơng đứng giữa 2 đèn thì cũng rất hãn hữu, không phổ biến, đa phần có bát hƣơng, tuy nhiên bát hƣơng đƣợc bày hàng trƣớc bộ tam sự nhƣ mong ƣớc gia tăng thêm phần tiếp cận với thần linh… Theo tác giả Trần Lâm Biền, có thể phân đồ thờ theo hai nhóm: đồ thờ nhân dạng và phi nhân dạng. Trong đó đồ thờ nhân dạng chính là hình tƣợng mang tính sáng tạo chủ quan của con ngƣời, nhằm cụ thể hóa một cách hồn nhiên nhất để biểu đạt hình ảnh của thần linh theo cách nhìn của mỹ thuật. Do con ngƣời luôn luôn có ý thức lấy mình làm trung tâm, coi hình tƣợng của chính mình là chuẩn mực, nên đa số các vị thần thiêng liêng đều mang bóng dáng con ngƣời. Thực tế đã cho thấy, các thần Mây, Mƣa, Sấm, Chớp, rồi các thần Rắn gắn với nguồn nƣớc, có thể kể ra rất nhiều thần linh khác nữa, khi đƣợc tôn sùng hoặc kính sợ thì hầu nhƣ đều đƣợc tƣ duy con ngƣời “nhào nặn” để các vị hóa thân nhân cách và rất nhiều trƣờng hợp đƣợc nhập về chùa… [14, tr.
Chúng tôi cho rằng đây là một gợi ý quan trọng về cách tiếp cận đồ thờ theo hƣớng cấu trúc, hình thái. Từ gợi ý này, chúng tôi phát triển thêm hƣớng luan an 19 tiếp cận theo chức năng để xác định các nhóm đồ thờ liên quan đến vai trò, chức năng của mỗi nhóm di vật trong điện thờ: 1. Di vật để thờ (ảnh, tƣợng, ngai thờ, y phục của thần linh, ngƣời quá cố). Công cụ mang tính kỹ thuật trong nghi lễ đƣợc coi trọng, kèm chức năng trang trí không gian thờ: Tam sự, Ngũ sự.
Đồ vật quý dâng lên Thần linh. Biểu tƣợng tôn giáo, tín ngƣỡng thiêng liêng đƣợc thờ cúng, trân trọng trên điện thờ… Cuốn sách Hoa văn Việt Nam, [24] của tác giả Nguyễn Du Chi là cuốn sách sƣu tầm, nghiên cứu rất công phu về mỹ thuật cổ Việt Nam mà cố tác giả Nguyễn Du Chi đã dày công trong suốt mấy chục năm, có giá trị rất lớn về mặt tƣ liệu cho những ai muốn tìm hiểu về lịch sử mỹ thuật Việt Nam cổ. Cuốn sách này đƣợc chia làm 3 phần: hoa văn thời tiền sử, hoa văn thời sơ sử và hoa văn nửa đầu thời phong kiến. Ở đây, chúng tôi quan tâm đến phần hoa văn nửa đầu thời phong kiến.
Đây là hoa văn đã gắn liền với đời sống hàng ngày của ngƣời dân. Hoa văn đƣợc đƣa vào thể hiện các đề tài về tôn giáo (trong đình, chùa) với các biểu tƣợng tứ linh (Long, Lân, Quy, Phƣợng), đặc biệt là con Rồng đƣợc cách điệu theo nhiều thời kỳ, là biểu tƣợng tối cao của quyền lực và sự linh thiêng. Hình vẽ các đức phật, tiên nữ, các loại cây thiêng, hoa văn hình sóng nƣớc, hình mặt trời, biểu tƣợng của quỷ thần… Chúng tôi cho rằng đây là một công trình quý giá. Không chỉ sƣu tập, phân loại các hoa văn cổ theo thời kỳ và theo các đề tài khác nhau, Nguyễn Du Chi còn đƣa ra các lý giải cho sự phát triển của nghệ thuật, biểu tƣợng của chúng trong đời sống, cho ngƣời đọc hình dung đƣợc bối cảnh lịch sử và sự đóng góp của mỹ thuật với đời sống văn hóa của ngƣời dân Việt cũng nhƣ mối quan hệ với các nền văn hóa khác trong khu vực, đây là một tƣ liệu cần thiết để tra cứu.
Cuốn sách Tục thờ cúng của người Việt, Bùi Xuân Mỹ nhận định: Đối với ngƣời Việt, phong tục thờ cúng tổ tiên gần nhƣ trở thành một thứ tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên, không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong luan an 20 nhà. Tuy nhiên, đây không phải là một tôn giáo mà là một tập tục, lòng tin thiêng liêng đối với vong linh ngƣời thân quá cố. Đây là một tín ngƣỡng rất quan trọng và không thể thiếu trong phong tục Việt Nam và là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa của ngƣời Việt. Đối với những ngƣời theo Thiên chúa giáo, từ 1968 đƣợc Tòa thánh Vatican cho phép họ đƣợc lập bàn thờ tại gia đình để cúng tổ tiên [88, tr.
Về cách bài trí đồ thờ tại các bàn thờ gia tộc tác giả cho biết các lớp không gian bày đặt nhƣ sau: Lớp trong gồm thần chủ (thƣờng bằng gỗ táo, khắc trên Thủy tổ) đặt trong Long khám), khám thờ, ngai thờ. Lớp ngoài có hƣơng án, trên hƣơng án đặt bát hƣơng, sau bát hƣơng gần thần chủ có đặt một chiếc kỷ nhỏ, trên kỷ đặt ba bộ kê - đài, trên mỗi bộ kê - đài này thƣờng đặt 3 chén rƣợu, nhà giàu thì bộ kê – đài thƣờng bằng đồng [88, tr. Đây là một tài liệu giúp chúng tôi trong việc khảo sát đồ thờ chất liệu đồng trong dân gian, đặc biệt thể loại đồ thờ Tam sự, Ngũ sự trong nhà thờ gia tiên, đình làng, đền miếu và việc bộ Tam sự đƣợc Giáo hội Việt Nam cho phép sử dụng trong Nhà thờ Thiên chúa giáo vùng Bắc Bộ. Đây là những thông tin khoa học quan trọng đối với chúng tôi.
Cuốn sách Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội [12] của các tác giả Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh và một số tác giả khác. Đây là một công trình là nghiên cứu về di sản văn hóa Thăng Long. Các tác giả sách trên đã quan tâm nhiều hơn đến tính nội hàm, ý nghĩa sâu xa trong mỗi loại hình di sản văn hóa ở vùng đất trung tâm của ngƣời Việt. Không bị chi phối quá nhiều vào tính hình thức và sự hấp dẫn bề ngoài vốn là những khía cạnh duy mỹ của di sản văn hóa, các tác giả quan tâm đến một chiều cạnh mới hơn, mang đến những chiều suy ngẫm khác lạ, nhƣng hấp dẫn và gợi thêm nhiều bình diện mới mang tính triết luận, khoa học hơn mà nghệ luan an 21 nhân xƣa đã thổi hồn vào các di vật cổ nhƣ trống đồng, lăng tẩm, chùa, đình , đền, miếu.
Chúng tôi có thể rút đƣợc nhiều vấn đề bổ ích trong sách trên, trong đó nhận thức rõ hơn về diễn biến của nghệ thuật tƣợng Phật Việt Nam vì đây cũng là một thể loại tƣợng thờ mà luận án đề cập: Do sự phân hóa xã hội thấp, sự ngăn cách giữa tầng lớp thống trị và quần chúng nhân gian chƣa cách biệt mạnh mẽ nhƣ Trung Hoa và Ấn Độ… nên ở một giới hạn nào đó, nghệ thuật tạo hình của ngƣời Việt cũng đƣợc biến đổi theo sự thay đổi của triều đại, vì thế chúng ta có thể gọi là mỹ thuật Lý, mỹ thuật Trần mà không sợ trái với khoa học…[12, tr. Tác giả Trần Lâm Biền cũng cho biết về vấn đề niên đại trong tƣợng Phật, đó là: Khó có thể bàn đƣợc tƣợng Phật, Bồ tát trƣớc thế kỷ XV ở Hà Nội, song những pho tƣợng gỗ có sớm nhất hiện còn ở nƣớc ta lại có nhiều ở nơi này. Hai bộ Tam Thế Phật với khuôn mặt hồn nhiên đôn hậu ở chùa Nành và chùa Lệ Mật chắc sẽ có vị trí xứng đáng trong lịch sử tạo hình ở nƣớc ta… [12, tr. Cuốn sách trên không bàn về tƣợng chất liệu đồng, nhƣng phƣơng pháp phân tích giá trị nghệ thuật thông qua biểu tƣợng, cái biểu đạt qua hình tƣợng một cách chắt lọc tinh tế và cái ý nghĩa tiềm ẩn sau hình thức tạo hình là một gợi ý rất bổ ích cho chúng tôi trong nghiên cứu mỹ thuật.