Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nghệ thuật học với đề tài Nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ do nghiên cứu sinh Lê Thị Thanh thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Văn Tạo. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, mã số 9210101.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định việc thờ cúng thần linh và người quá cố là một ứng xử văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người Việt. Trong hệ thống di vật gắn với nghi lễ, đồ đồng được xem là kim loại quý và kim loại thiêng, vừa mang tính thiêng vừa phản ánh bề dày truyền thống thẩm mỹ. Tuy nhiên, do biến động của chiến tranh và nhu cầu đúc tiền, vũ khí trong lịch sử phong kiến, các đồ thờ chất liệu đồng thời kỳ trước thế kỷ XIX hầu hết đã bị cướp phá, tiêu hủy hoặc tái chế. Mặc dù các làng nghề đúc đồng truyền thống có sự hồi sinh mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XX, nhưng sau năm 2000, xu hướng thương mại hóa thị trường đã dẫn đến tình trạng nhân bản hàng loạt, tạo hình trở nên sơ lược hoặc quá vụn vặt, kết hợp với việc lạm dụng thếp vàng toàn bộ làm suy giảm giá trị tạo hình tổng thể. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện luận án, giới nghiên cứu mỹ thuật và văn hóa học chưa có công trình chuyên sâu nào khảo sát toàn diện nghệ thuật tạo hình của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn thế kỷ XIX – XX.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích và làm rõ các yếu tố tạo hình, đặc điểm nghệ thuật của đồ thờ chất liệu đồng so với các chất liệu khác; làm rõ sự tương tác giữa chức năng thiêng và yêu cầu về hình thức thẩm mỹ tại địa bàn văn hóa đồng bằng Bắc Bộ; từ đó rút ra các kiến giải về giá trị tạo hình của đồ thờ chất liệu đồng từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Tổng quan tài liệu của các tác giả đi trước nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu và xác lập tính mới của đề tài.
  2. Tiếp cận các đồ thờ chất liệu đồng tại các thiết chế thờ tự tôn giáo, tín ngưỡng và không gian thờ tự tư gia để khảo sát biểu hiện của nghệ thuật tạo hình.
  3. Phân tích đặc điểm và ý nghĩa tạo hình thông qua các biểu hiện nghệ thuật như đề tài, mô típ, bố cục, đường nét, hình khối, màu sắc, chất liệu và thủ pháp tạo hình.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số trong văn bản như sau:

  • 4.1. Ngôn ngữ tạo hình, thể loại đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ TK XIX đến TK XX được biểu hiện như thế nào ?
  • 4.2. Đặc điểm nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ đầu TK XIX đến năm 2000 ?
  • 4.3. Giá trị văn hóa nghệ thuật của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ TK XIX đến TK XX ?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu tương ứng được đánh số như sau:

  • 4.1.1. Giả thuyết cho câu hỏi 1: Đồ thờ chất liệu đồng phản ánh sự kết hợp giữa vật thiêng và tác phẩm mỹ thuật. Ở giai đoạn đầu thế kỷ XIX đến năm 1954, hiện vật khảo sát chủ yếu tồn tại đơn lẻ, tỷ lệ thấp bé, mô típ giản lược và ít gia công tạo hình sau đúc; giai đoạn 1954 – 1986 xuất hiện các bộ tam sự (đỉnh trầm ở giữa, hai chân nến hoa sen hai bên); giai đoạn 1986 – 2000 xuất hiện phổ biến các bộ ngũ sự, chất liệu đồng tam khí, tỷ lệ thanh mảnh, cùng sự phát triển của các bộ thất sự và cửu sự.
  • 4.1.2. Giả thuyết cho câu hỏi 2: Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1954 gắn với nhu cầu xây dựng nhà thờ họ, lăng mộ của tầng lớp địa chủ, quan lại (đồ đồng trơn phổ biến ở tầng lớp phú hào, đồ chạm khắc công phu dành cho quan lại). Giai đoạn 1954 – 1986 chịu tác động của kinh tế hộ và xu hướng hình thức trong xây dựng công trình văn hóa. Giai đoạn 1986 – 2000 bộc lộ hai xu hướng: sản xuất hàng loạt hạ thấp chất lượng thẩm mỹ và sự phục hồi kỹ thuật truyền thống hướng đến sản phẩm cao cấp, xuất hiện sự phân hóa giữa đồ thờ đơn chiếc, đồ thờ xuất khẩu và đồ thờ sản xuất hàng loạt.
  • 4.1.3. Giả thuyết cho câu hỏi 3: Ban đầu mang tính công cụ nghi lễ (chủ yếu là đồ thờ phi nhân dạng), đồ thờ đồng từng bước được nâng cao giá trị tạo hình nhờ sự kết hợp giữa kỹ thuật kim khí hiện đại và kỹ xảo thủ công truyền thống. Đồ thờ nhân dạng thể hiện sự tương đồng với chất liệu gỗ, đá nhưng mang nét riêng do kỹ thuật gia công kim loại chi phối. Đồ thờ phi nhân dạng tích hợp các giá trị mỹ thuật truyền thống từ hình khối, hoa văn kỷ hà, dây leo, linh thú đến tranh dân gian và cảnh sắc sinh hoạt.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định là đồ thờ bằng đồng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ thuộc hai thể loại: đồ thờ nhân dạng (tượng thờ thần, tiên, Phật, nhân vật lịch sử) và đồ thờ phi nhân dạng (đỉnh đồng, chân đèn hình chim hạc trên lưng rùa, bình hương, mâm bồng...).

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian: Tập trung từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX (cụ thể từ đầu thế kỷ XIX đến năm 2000), được phân kỳ thành ba mốc: đầu thế kỷ XIX đến năm 1954; từ sau năm 1954 đến năm 1986; và từ sau năm 1986 đến năm 2000.
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ, khảo sát chủ yếu tại các tỉnh và thành phố: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phú Thọ. Đồng thời, tác giả mở rộng nghiên cứu đối sánh với hiện vật tại Thanh Hóa, Cố đô Huế, Hội An và Thành phố Hồ Chí Minh. Các điểm khảo sát gồm các di tích lưu giữ hiện vật đơn chiếc đạt chuẩn thẩm mỹ và các xưởng đúc đồng của một số dòng họ tại các làng nghề truyền thống tiêu biểu như Đại Bái (Bắc Ninh), Tống Xá (Nam Định), Ngũ Xã (Hà Nội).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân chia thành ba nhóm nghiên cứu chính:

Nhóm tài liệu Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung và giá trị tiếp thu
Nghiên cứu về làng nghề đúc đồng - Trương Minh Hằng (chủ biên), Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam
- UBND TP Hà Nội, Một số tổ nghề, các nghệ nhân làng nghề tiêu biểu
- Đỗ Thị Hảo, Làng Đại Bái gò đồng
- Dương Minh Đức, Tống Xá làng nghề đúc truyền thống cội nguồn Xưa và Nay
- Cung cấp quy trình công nghệ đúc đồng truyền thống, lịch sử hình thành và phát triển của các làng nghề.
- Ghi nhận truyền thuyết vị tổ nghề Nguyễn Minh Không (năm 1118) dạy dân làng Tống Xá đúc kim loại tại cánh đồng Cầu Hố.
- Cung cấp dữ liệu về bước ngoặt chấn hưng làng nghề sau năm 1986 và năm 2000.
Nghiên cứu về đồ thờ chất liệu đồng của tác giả trong nước - Trần Lâm Biền, Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2001); Đồ thờ trong di tích của người Việt (2003, 2019); Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội (đồng tác giả Trịnh Sinh)
- Nguyễn Du Chi, Hoa văn Việt Nam
- Bùi Xuân Mỹ, Tục thờ cúng của người Việt
- Đinh Hồng Hải, Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam (tập 1)
- Nguyễn Đức Tuấn, bài viết về đúc đồng Ngũ Xã
- Chu Quang Trứ, Văn hoá Việt Nam nhìn từ mỹ thuật
- Đặng Văn Thắng, Phạm Hữu Công, Đồ đồng Thời Nguyễn
- Đinh Phương Châm, Đề tài Đồ Đồng thời Lê – Nguyễn thế kỷ XV – XX tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia
- Nguyễn Văn Cường (chủ biên), Bảo vật hoàng cung triều Nguyễn
- Trung tâm bảo tồn di sản cố đô Huế, Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế (tập VI)
- BTLSVN và Bảo tàng Thủ đô Bắc Kinh, Cổ Vật Việt Nam
- Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Đình Chiến, Cổ vật Thăng Long - Hà Nội
- Trang Thanh Hiền, Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt
- Giải mã ý nghĩa biểu tượng các linh vật (Rồng, Phượng, Lân, Rùa, Hổ phù), hoa văn cây cỏ, bát bửu.
- Phân loại đồ thờ thành hai nhóm cấu trúc: đồ thờ nhân dạng và phi nhân dạng; phân định chức năng các lớp đồ thờ trong không gian thờ cúng gia tiên và di tích.
- Xác định đặc điểm đồ đồng cung đình triều Nguyễn (chất liệu vàng, bạc, ngọc chiếm ưu thế ở hoàng cung; đồ đồng chủ yếu mang tính dân gian).
- Cung cấp tiêu bản, hình ảnh, thông số kỹ thuật các đỉnh đồng, tượng Phật, đồ tự khí thời Lê - Nguyễn tại các bảo tàng.
Nghiên cứu về đồ thờ chất liệu đồng của tác giả nước ngoài - Gustave Dumoutier (1891), Les symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les Annamites
- Marcel Bernanosse (1962), Les Arts décoratifs au Tonkin
- Kerry Nguyễn Long, Arts of Vietnam 1009 – 1945
- Ghi chép sớm về các đồ thờ cúng, biểu tượng chữ Phúc, Thọ, bát quái, hạc cưỡi rùa tại Bắc Kỳ và đền Trấn Vũ (Hà Nội).
- Phân tích mô hình chùa Phật giáo và ý nghĩa các mô típ trang trí dưới góc nhìn mỹ thuật phương Tây.
- Khảo sát mỹ thuật triều Nguyễn, nhận diện sự giao lưu văn hóa giữa đồ đồng Việt Nam và đồ đồng Trung Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đây đã đề cập đến kỹ thuật làng nghề, lịch sử văn hóa hoặc biểu tượng trang trí nói chung, song chưa có công trình nào đi sâu khảo cứu chuyên biệt dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật đối với nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn thế kỷ XIX – XX. Đồ thờ bằng đồng ở các công trình trước thường chỉ được nhắc đến như một bộ phận phụ trợ, thiếu sự phân tích hệ thống về ngôn ngữ tạo hình (hình khối, đường nét, bố cục, màu sắc), thủ pháp biểu đạt và sự vận động phong cách qua từng giai đoạn lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật:

  1. Lý thuyết về Tiếp biến văn hóa (Acculturation): Luận án tiếp cận khái niệm tiếp biến văn hóa như một quá trình biến đổi văn hóa do sự giao lưu, tiếp xúc giữa các nền văn hóa. Trong phạm vi đề tài, lý thuyết này được tác giả vận dụng trên ba bình diện:

    • Dòng chảy liên tục trong thẩm mỹ dân tộc của người Việt, kế thừa ngôn ngữ tạo hình từ các chất liệu truyền thống trước đó như gỗ, đá, gốm, sứ sang chất liệu đồng.
    • Quá trình Việt hóa các hình mẫu tạo hình ngoại sinh du nhập từ Trung Quốc, Ấn Độ và phương Tây (tiêu biểu như việc bản địa hóa các đồ án tứ linh, tứ quý, hoa văn kỷ hà).
    • Sự tương tác giữa thẩm mỹ truyền thống và công nghệ kim khí hiện đại trong nghệ thuật tạo hình đồ thờ từ thế kỷ XIX đến năm 2000.
  2. Lý thuyết về Tính tương đối văn hóa (Cultural Relativism): Luận án dựa trên lý thuyết do nhà nhân loại học Franz Boas khởi xướng và được phát triển bởi các học trò cùng nhà nhân học Claude Lévi-Strauss. Luận án đặc biệt khai thác hai chiều cạnh:

    • Tính tương đối dọc (thời gian): Nhấn mạnh tính "đặc thù lịch sử". Văn hóa và nghệ thuật của mỗi thời kỳ phản ánh điều kiện kỹ thuật, môi cảnh sinh tồn và tâm lý xã hội cụ thể của giai đoạn đó. Tác giả vận dụng để lý giải nguyên nhân dẫn đến các đặc điểm tạo hình khác biệt qua ba mốc thời gian (đầu thế kỷ XIX – 1954, 1954 – 1986, và 1986 – 2000).
    • Tính tương đối ngang (không gian): Xem xét yếu tố tộc người và địa bàn cư trú (châu thổ sông Hồng) như môi trường địa - văn hóa định hình nên sắc thái mỹ thuật dân gian bản địa.

Luận án chuẩn hóa hệ thống khái niệm và thuật ngữ chuyên ngành:

  • Nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng: Thuộc loại hình nghệ thuật dân gian nằm trong nghệ thuật điêu khắc, sử dụng hình khối, đường nét, bố cục, chất cảm và màu sắc của kim loại đồng nhằm tạo ra các tác phẩm đáp ứng chức năng tâm linh.
  • Đồ thờ nhân dạng: Các tác phẩm tượng tròn mô tả hình người (thần, tiên, Phật, nhân vật lịch sử, tượng Hậu), tuân thủ các quy ước tôn giáo (như tướng hảo của Phật: đỉnh đầu có ushnisha, dái tai dài, cổ ba ngấn).
  • Đồ thờ phi nhân dạng: Các công cụ, phương tiện phục vụ nghi lễ (đỉnh trầm, chân đèn hình hạc cưỡi rùa, bình hoa, bát hương, mâm bồng).
  • Mỹ thuật ứng dụng và Mỹ thuật tạo hình: Căn cứ theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, tác giả phân định đồ thờ phi nhân dạng về bản chất thuộc mỹ thuật ứng dụng do gắn liền với chức năng thực hành nghi lễ. Tuy nhiên, ở các hiện vật được nghệ nhân gia công sau đúc tinh xảo (như đỉnh đồng và chân đèn hạc cưỡi rùa), yếu tố tạo hình chiếm ưu thế vượt trội, đưa các hiện vật này tiệm cận tác phẩm mỹ thuật tạo hình độc lập.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phân tích sách chuyên khảo, vựng tập khảo cổ và báo cáo khoa học để xác lập khung lý thuyết.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa tại các di tích, xưởng đúc đồng; tiến hành đo đạc kích thước, chụp ảnh tư liệu. Tác giả xác định niên đại hiện vật dựa trên ba tiêu chí nhận biết: (1) Màu sắc, độ sáng và độ phản quang bề mặt đồng; (2) Phong cách tạo hình khối, nét, hình tượng linh thú ở nắp, quai và chân đỉnh; (3) Mô típ và đồ án trang trí.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Thống kê tỷ lệ đồ thờ nhân dạng so với phi nhân dạng; so sánh tần suất xuất hiện giữa đề tài tứ linh và tứ quý; đồ án ngoại sinh và bản địa; thủ pháp cách điệu và hiện thực.
  • Hướng tiếp cận liên ngành: Kết hợp Mỹ thuật học với Tôn giáo - tín ngưỡng học, Dân tộc học, Văn hóa học và Kinh tế văn hóa học để nhận diện đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh xã hội toàn diện.

Nguồn tư liệu, dữ liệu chính của luận án gồm hệ thống hiện vật tại các bảo tàng (Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế), các cơ sở thờ tự dân gian và sản phẩm lưu giữ tại các xưởng đúc dòng họ ở ba làng nghề: Đại Bái, Tống Xá, Ngũ Xã.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỒ THỜ CHẤT LIỆU ĐỒNG

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xây dựng khung lý thuyết, xác lập thuật ngữ và phác họa bối cảnh địa bàn nghiên cứu.

Về bối cảnh không gian, đồng bằng Bắc Bộ là vùng châu thổ màu mỡ hình thành từ phù sa hệ thống sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình. Theo số liệu thống kê ngày 01/4/2009 được văn bản dẫn lại, mật độ dân số vùng đạt trên 290 người/km², với quy mô dân số chiếm gần 1/4 cả nước (19.944 nghìn người). Vùng đất này sở hữu khoảng 500 làng nghề thủ công, trong đó nghề đúc đồng tập trung tại các trung tâm lớn như Ngũ Xã (Hà Nội), Tống Xá (Nam Định), Đại Bái (Bắc Ninh). Luận án ghi nhận vai trò của vị tổ nghề Nguyễn Minh Không vào năm 1118 đã truyền dạy nghề kéo bễ thổi lò, lấy đất sét tại cánh đồng Cầu Hố để làm khuôn đúc.

Về mặt phân loại, tác giả chỉ ra sự tương tác mật thiết giữa hai thể loại đồ thờ:

  • Đồ thờ nhân dạng: Tượng thờ mang tính tạo hình ba chiều, tuân thủ điển chế tôn giáo kết hợp với thẩm mỹ dân gian.
  • Đồ thờ phi nhân dạng: Phát triển từ dạng hiện vật đơn lẻ ở thế kỷ XIX sang các bộ hoàn chỉnh (tam sự, ngũ sự, thất sự, cửu sự) vào thế kỷ XX.

Tác giả nhấn mạnh đặc tính vật lý của chất liệu đồng (nóng chảy ở nhiệt độ cao, có tính dẻo, dễ gò uốn, đổi màu tự nhiên do phản ứng oxy hóa thành nâu đen hoặc lam ngọc). Kỹ thuật chế tác gồm đúc thô tạo phôi và công đoạn gia công sau đúc (cầy nét âm bản, cẩn tam khí, mài, đánh bóng, khò nhiệt nhuộm màu). Chính tay nghề gia công sau đúc của nghệ nhân tạo nên giá trị thẩm mỹ cá biệt của đồ thờ đồng.

Chương 2: BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH ĐỒ THỜ CHẤT LIỆU ĐỒNG Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

Chương 2 phân tích chuyên sâu các biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ tạo hình đồ thờ chất liệu đồng:

  • Đề tài và mô típ:

    • Linh thú, động vật: Phổ biến nhất là đề tài tứ linh (Long, Lân, Quy, Phượng). Trên đỉnh đồng, hình tượng con Nghê hoặc Long Mã ngậm thư tịch thường ngự trên nắp đỉnh; quai đỉnh uốn hình rồng; chân đỉnh tạo dáng quỳ dạng đầu lân, hổ phù. Đôi chân đèn tạo hình chim hạc ngậm hoa sen đứng trên mai rùa là mô típ đặc trưng, mang ý nghĩa trường thọ và thanh cao.
    • Thực vật và tranh dân gian: Các mô típ hoa cúc, hoa sen, trúc hóa rồng, tùng - cúc - trúc - mai biểu thị ước vọng thanh tịnh, trường tồn. Một số đỉnh đồng chạm khắc các cảnh sinh hoạt dân gian, lễ hội mùa xuân, tranh mẹ bồng con mang đậm hơi thở cuộc sống đời thường của cư dân nông nghiệp.
    • Đồ vật và chữ Hán - Việt: Biểu tượng âm dương bát quái, bát bửu, bình hồ lô xen kẽ các chữ Hán dạng chữ triện hoặc chữ thảo (Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh) cầu chúc bình an và phước hạnh.
  • Bố cục tạo hình:

    • Bố cục cân xứng: Chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong đồ thờ đồng nhằm đáp ứng yêu cầu trang nghiêm, tôn kính của không gian thiêng. Thể hiện qua sự đăng đối của hai quai đỉnh, ba hoặc bốn chân đỉnh, và sự sắp đặt đối xứng của đôi chim hạc, đôi chân nến hai bên đỉnh trầm.
    • Bố cục phi cân xứng và tự do: Xuất hiện hạn chế trên một số chi tiết trang trí chạm lộng hoặc các đồ án tranh phong cảnh bao quanh thân đỉnh tròn, thân đỉnh bát giác.
  • Đường nét, hình khối, chất liệu và màu sắc:

    • Đường nét uốn lượn mềm mại của vân mây, sóng nước kết hợp với các đường gờ chỉ khỏe khoắn quanh miệng và chân đế.
    • Hình khối biến chuyển nhịp nhàng giữa độ nở của thân đỉnh và độ thót của cổ, chân đế; độ tròn lượn của tượng rùa nâng đỡ dáng vươn thanh mảnh của chim hạc.
    • Màu sắc tận dụng màu tự thân của kim loại (đồng vàng, đồng đỏ) kết hợp kỹ thuật khảm tam khí (đồng, bạc, vàng) và hun màu tạo lớp oxit nâu trầm cổ kính.
  • Các thủ pháp tạo hình:

    • Thủ pháp cách điệu: Là thủ pháp chủ đạo, biến đổi các hình tượng tự nhiên (mây hóa rồng, tre hóa rồng, lá sen cách điệu thành đĩa đèn).
    • Thủ pháp hiện thực: Thể hiện ở tỷ lệ giải phẫu chi tiết của tượng Phật (bàn tay, nếp áo) hoặc cấu tạo giải phẫu của chim hạc, mai rùa.
    • Thủ pháp kết hợp điêu khắc và trang trí: Đỉnh trầm và chân đèn là sự dung hợp giữa nghệ thuật đúc tượng tròn (tượng nghê, tượng hạc, tượng rùa) và nghệ thuật chạm khắc phù điêu trên bề mặt thân đỉnh.

Chương 3: BÀN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT CỦA ĐỒ THỜ CHẤT LIỆU ĐỒNG Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

Chương 3 tổng kết các đặc điểm nghệ thuật và xác lập giá trị văn hóa của đồ thờ chất liệu đồng:

  • Đặc điểm nghệ thuật tạo hình:

    • Tính đa dạng trong bố cục và đồ án: Kết hợp phong phú các đề tài tôn giáo, tín ngưỡng dân gian và sinh hoạt nhân sinh.
    • Sự tích hợp đa dạng các yếu tố tạo hình: Đồ thờ đồng tiếp thu cách thức tạo khối của đồ gỗ, hoa văn men gốm nhưng xử lý sắc nét nhờ độ dai bền và tính nóng chảy của đồng.
    • Tính dân gian, bản địa: Mặc dù tiếp thu nhiều mô típ ngoại sinh từ văn hóa Trung Hoa (như tứ linh, chữ Hán), nghệ nhân Việt đã mềm hóa, đưa vào các đường nét phóng khoáng, mộc mạc, gần gũi với tâm thức người Việt.
    • Sự tiếp thu và biến đổi yếu tố ngoại sinh: Quá trình chọn lọc các đồ án phương Bắc được chuyển hóa phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của cộng đồng làng xã châu thổ sông Hồng.
  • Giá trị văn hóa, nghệ thuật:

    • Ghi dấu ấn lịch sử qua ba giai đoạn:
      1. Đầu thế kỷ XIX – 1954: Đồ thờ đồng tồn tại chủ yếu ở dạng đơn chiếc tại các đình chùa, nhà thờ họ của tầng lớp giàu có; kiểu dáng đanh chắc, mộc mạc, kích thước nhỏ gọn.
      2. 1954 – 1986: Khẳng định sự xuất hiện của bộ tam sự; phục vụ đời sống tâm linh trong bối cảnh đất nước có nhiều biến đổi sau hòa bình lập lại ở miền Bắc.
      3. 1986 – 2000: Thời kỳ Đổi mới thúc đẩy kinh tế thị trường, nhu cầu xã hội gia tăng mạnh mẽ, dẫn đến sự xuất hiện phổ biến của các bộ ngũ sự, thất sự, cửu sự với kích thước lớn, kỹ thuật khảm tam khí tinh xảo.
    • Tính thẩm mỹ: Nâng tầm các vật phẩm nghi lễ thành tác phẩm nghệ thuật tạo hình, làm gia tăng vẻ uy nghiêm, thanh thoát cho không gian kiến trúc thờ tự truyền thống.
  • Một số vấn đề rút ra: Tác giả phân tích mặt trái của cơ chế thị trường sau năm 2000, cảnh báo hiện tượng lạm dụng máy móc công nghiệp, đúc hàng loạt thiếu trau chuốt thủ công và việc dát vàng phủ kín làm mất đi vẻ đẹp của kỹ thuật chạm cẩn và nhịp điệu hình khối truyền thống.


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới cụ thể:

  1. Về mặt lý luận:

    • Luận án phân tích ranh giới và mối quan hệ biện chứng giữa Mỹ thuật ứng dụng và Mỹ thuật tạo hình trong đồ thờ chất liệu đồng. Luận án khẳng định rằng dù ban đầu mang chức năng công cụ nghi lễ (mỹ thuật ứng dụng), hai món thờ tiêu biểu là đỉnh trầm và chân đèn hình hạc trên lưng rùa đã chuyển hóa thành những tác phẩm mỹ thuật tạo hình thực thụ nhờ sự thăng hoa của kỹ thuật điêu khắc và trang trí sau đúc.
    • Vận dụng thành công lý thuyết Tiếp biến văn hóa và Tính tương đối văn hóa để lý giải quá trình vận động của nghệ thuật tạo hình đồ thờ đồng dưới tác động của điều kiện kinh tế, xã hội và lịch sử qua từng thời kỳ.
  2. Về mặt thực tiễn:

    • Hệ thống hóa tư liệu lịch sử, phân kỳ và làm rõ đặc điểm phong cách tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ qua ba giai đoạn cụ thể: đầu thế kỷ XIX – 1954; 1954 – 1986; và 1986 – 2000.
    • Xác lập ba tiêu chí thực địa nhằm đoán định niên đại hiện vật đồ thờ chất liệu đồng (màu sắc/độ phản quang; phong cách khối, nét, linh vật; đồ án trang trí).
    • Phân tích sự kết hợp giữa kỹ thuật đúc đồng thủ công truyền thống tại các làng nghề (Đại Bái, Tống Xá, Ngũ Xã) với kỹ thuật gia công kim khí mới.
  3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

    • Đề xuất các cơ sở sản xuất và làng nghề truyền thống cần chú trọng khâu gia công tạo hình thủ công tinh xảo sau đúc, hạn chế xu hướng thương mại hóa đúc thô hàng loạt và lạm dụng kỹ thuật dát vàng che lấp các giá trị điêu khắc cốt lõi.
    • Cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý di tích và nghệ nhân định hướng bảo tồn, phục dựng các mẫu đồ thờ đồng đạt chuẩn mực thẩm mỹ truyền thống của người Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định:

  • Do đặc tính quý hiếm của kim loại đồng, phần lớn hiện vật có niên đại trước thế kỷ XIX đã bị tiêu hủy, cướp phá hoặc đem nấu chảy để đúc tiền và súng đạn trong chiến tranh; do đó tư liệu hiện vật nguyên bản giai đoạn sớm rất khan hiếm.
  • Đa số các đồ thờ chất liệu đồng trong dân gian và di tích không khắc ghi niên đại tuyệt đối, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải đoán định niên đại gián tiếp dựa vào phong cách nghệ thuật tạo hình.
  • Luận án chủ động không nghiên cứu sâu các sản phẩm đúc đồng đại trà sau năm 2000 do tính thương mại hóa thị trường làm mờ nhạt cá tính sáng tạo nghệ thuật.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối sánh toàn diện giữa đồ đồng dân gian đồng bằng Bắc Bộ với đồ đồng cung đình triều Nguyễn tại Cố đô Huế và đồ thờ tại các vùng văn hóa Nam Bộ.
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về kỹ thuật chạm khảm kim loại (tam khí, ngũ sắc) như một chuyên ngành hẹp của nghệ thuật kim hoàn truyền thống Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên chuyên ngành Mỹ thuật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về lịch sử mỹ thuật truyền thống, khung lý thuyết tiếp cận liên ngành (Mỹ thuật học kết hợp Tôn giáo học và Nhân học văn hóa) cùng phương pháp phân loại cấu trúc đồ thờ (nhân dạng và phi nhân dạng).
  • Cơ quan quản lý di tích và hoạch định chính sách văn hóa: Cung cấp tiêu chí phân loại, nhận diện niên đại và đánh giá giá trị thẩm mỹ của hiện vật đồ đồng trong các đình, chùa, đền, miếu, phục vụ công tác kiểm kê, bảo tồn di sản văn hóa vật thể.
  • Nghệ nhân và cơ sở đúc đồng tại các làng nghề truyền thống: Giúp nhận thức sâu sắc về giá trị tạo hình nguyên bản của các đồ án tứ linh, hoa văn sen cúc, tỷ lệ đỉnh đồng và hình tượng hạc cưỡi rùa, từ đó định hướng sáng tác các mẫu đồ thờ mới đảm bảo sự hài hòa giữa chức năng tâm linh và mỹ cảm dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chia quá trình phát triển của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ thành những giai đoạn nào và căn cứ vào đâu?
Luận án phân chia phạm vi nghiên cứu từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX thành ba giai đoạn: (1) Đầu thế kỷ XIX đến năm 1954; (2) Từ sau năm 1954 đến năm 1986; (3) Từ sau năm 1986 đến năm 2000. Tiêu chí phân kỳ dựa trên tính đặc thù lịch sử của bối cảnh kinh tế - xã hội (mốc vua Nguyễn lên ngôi năm 1802; hòa bình lập lại ở miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954; và công cuộc Đổi mới năm 1986) cùng với sự biến chuyển trong phong cách và quy mô sản xuất đồ thờ.

2. Đồ thờ phi nhân dạng được phân biệt cấu trúc cụ thể như thế nào qua các bộ tam sự, ngũ sự, thất sự và cửu sự?
Theo khảo sát của tác giả, bộ tam sự gồm đỉnh đồng ở giữa và đôi chân nến (hoặc đôi chim hạc); bộ ngũ sự gồm bộ tam sự bổ sung thêm hai chân đèn hình chim hạc cưỡi rùa (hoặc hai lọ hoa); bộ thất sự là bộ ngũ sự có thêm hai ống hương (hoặc bình hoa); và bộ cửu sự phát triển thêm đôi mâm bồng đặt ở hai bên ngoài cùng.

3. Hai món thờ phi nhân dạng nào mang giá trị tạo hình nổi bật nhất và có sự biến đổi công năng ra sao?
Đó là đỉnh trầm và chân đèn hình tượng chim hạc đứng trên lưng rùa. Ban đầu, đây là những công cụ nghi lễ thuần túy dùng để đốt trầm hương và cắm nến/đựng dầu đèn. Trải qua thời gian, nghệ nhân đã tập trung trau chuốt điêu khắc hình khối và đồ án trang trí tinh xảo, khiến chức năng làm giá đỡ đèn nến dần suy giảm, chuyển hóa thành các biểu tượng văn hóa thiêng liêng và tác phẩm mỹ thuật tạo hình trung tâm trên ban thờ.

4. Vị tổ nghề đúc đồng làng Tống Xá (Nam Định) được văn bản ghi nhận là ai và gắn với truyền thuyết nào?
Theo sách của tác giả Dương Minh Đức được dẫn trong luận án, vị tổ nghề của làng Tống Xá là thiền sư Nguyễn Minh Không. Vào năm 1118, ông đến chùa Tống Xá ngụ cư, phát hiện cánh đồng Cầu Hố ở phía đông bắc làng có đất sét phù hợp làm khuôn đúc, từ đó dạy dân làng nghề kéo bễ thổi lò đúc gang, đồng phục vụ nông nghiệp và đời sống.

5. Tác giả luận án sử dụng các tiêu chí nào để đoán định niên đại của các đồ thờ đồng khi điền dã?
Do hiện vật dân gian hầu hết không khắc ghi niên đại tuyệt đối, tác giả căn cứ vào ba bình diện thực địa: (1) Màu sắc, độ sáng và độ phản quang trên bề mặt kim loại đồng; (2) Phong cách tạo hình khối, đường nét và cách thể hiện linh vật trên nắp, quai, chân đỉnh; (3) Cấu trúc của các mô típ hoặc đồ án hoa văn trang trí.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thanh đã khảo cứu toàn diện nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ XIX đến năm 2000 dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật. Thông qua việc vận dụng lý thuyết Tiếp biến văn hóa và Tính tương đối văn hóa cùng phương pháp điền dã thực tế, công trình đã làm sáng tỏ quá trình vận động ngôn ngữ tạo hình từ các hiện vật đơn chiếc sang các bộ đồ thờ hoàn chỉnh. Luận án khẳng định giá trị thẩm mỹ đặc sắc của đồ thờ đồng là kết quả dung hợp hài hòa giữa kỹ xảo thủ công truyền thống của nghệ nhân dân gian với đặc tính kim loại, xác lập vị thế của đồ thờ đồng trong dòng chảy mỹ thuật dân tộc.