Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đền và lễ hội Hai Bà Trưng ở Hát Môn" do sinh viên Phạm Đình Tuân thực hiện năm 2014 dưới sự hướng dẫn của TS. Đặng Thị Vân Chi tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Việt Nam học, đi sâu vào lĩnh vực lịch sử văn hóa, di sản tín ngưỡng và văn hóa làng xã truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Về bối cảnh thực tiễn, mảnh đất Hát Môn (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc: đây vừa là nơi Hai Bà Trưng dựng cờ tụ nghĩa, tập hợp quân sĩ, tế trời đất xuất quân vào mùa xuân năm 40 sau Công nguyên, vừa là nơi Hai Bà gieo mình tuẫn tiết xuống dòng Hát Giang vào ngày mùng 6 tháng 3 năm Quý Mão (năm 43). Để tưởng nhớ công đức, nhân dân địa phương đã lập đền phụng thờ suốt hai nghìn năm. Ngày 11/12/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định công nhận Đền Hai Bà Trưng ở Hát Môn là Di tích quốc gia đặc biệt (thuộc nhóm 48 di tích quốc gia đặc biệt đầu tiên trên cả nước). Xuất phát từ niềm tự hào quê hương và nhu cầu hệ thống hóa tư liệu lịch sử - văn hóa phục vụ quảng bá du lịch di sản, tác giả đã lựa chọn đề tài này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 4 nhiệm vụ:

  1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử hình thành làng xã, tổ chức hành chính và đời sống kinh tế - văn hóa của xã Hát Môn.
  2. Khảo sát diện mạo lịch sử, quá trình khởi dựng, trùng tu và đặc trưng kiến trúc - điêu khắc nghệ thuật của quần thể di tích Đền Hai Bà Trưng ở Hát Môn qua các thời kỳ.
  3. Miêu tả, phân loại và phân tích hệ thống các kỳ lễ thường, đại lễ, nghi thức tế tự, phẩm vật và lễ tục truyền thống tại đền Hát Môn.
  4. Đánh giá ảnh hưởng toàn diện của di tích và lễ hội Hai Bà Trưng đối với đời sống tâm linh, cấu trúc cộng đồng và ý thức vươn lên của cư dân Hát Môn.

Đối tượng nghiên cứu là Đền thờ và Lễ hội Hai Bà Trưng tại xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Phạm vi không gian giới hạn tại địa bàn xã Hát Môn và các vùng phụ cận liên quan đến di tích; phạm vi thời gian trải dài từ bối cảnh lịch sử cuộc khởi nghĩa năm 40 đến thực trạng quản lý, sinh hoạt lễ hội tại địa phương năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên khung lý thuyết nghiên cứu văn hóa dân gian, lịch sử địa phương và nhân học văn hóa làng xã Việt Nam truyền thống. Tác giả dựa trên hệ thống văn bản pháp lý di sản, trực tiếp là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/12/2013 về việc xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt đối với Đền Hát Môn.

Về nguồn tư liệu, tác giả khai thác đa tầng các nguồn sử liệu:

  • Thư tịch cổ Trung Quốc: Hán thư, Hậu Hán kỷ, Hậu Hán thư, Thủy kinh chú, Tư trị thông giám (Tư Mã Quang), Việt kiệu thư (Lý Văn Phượng), An Nam chí (Cao Hùng Trưng).
  • Chính sử và địa chí Việt Nam: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp / Vũ Quỳnh - Kiều Phú), Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Đại Nam nhất thống chí, Thiên Nam ngữ lục, Đại Nam quốc sử diễn ca.
  • Tư liệu Hán Nôm tại di tích: Bản Ngọc phả làng Hát Môn do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1572 (bản sao năm 1938 của lý trưởng địa phương, ký hiệu Q4_18/I tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội); 12 văn bia cổ thời Lê - Nguyễn (trong đó có 6 văn bia tại đền Hai Bà Trưng, bia Bảo Lâm tự ký năm 1850, bia Sáng tạo sinh đường lưu truyền bia ký năm 1625); 22 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến cùng hệ thống hoành phi, câu đối cổ (như câu đối của Cao Bá Quát).
  • Công trình nghiên cứu hiện đại: Các nghiên cứu của Đào Duy Anh (1957), Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn (1963), Trương Hữu Quýnh (1970), Duy Hinh (1965), Lê Văn Lan (1973), Vũ Tuấn Sán (1973), Nguyễn Vinh Phúc (1983).

Phương pháp nghiên cứu bao gồm:

  • Phương pháp lịch đại: Khảo sát diễn tiến lịch sử làng xã, đền thờ và quá trình tôn tạo di tích qua các giai đoạn từ thế kỷ I đến nay.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Khảo sát thực địa quần thể kiến trúc, ghi chép hiện trạng đồ thờ tự, phỏng vấn sâu các cụ cao niên trong Ban quản lý di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng và chính quyền xã Hát Môn.
  • Phương pháp mô tả và phân tích: Tái hiện cấu trúc không gian kiến trúc, quy trình thực hành nghi lễ và giải mã các lớp biểu tượng văn hóa nông nghiệp lồng ghép trong nghi thức tế tự.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về xã Hát Môn

Chương này trình bày toàn diện bức tranh địa lý tự nhiên, lịch sử biến đổi hành chính, tổ chức xã hội và đời sống kinh tế - văn hóa của làng xã Hát Môn:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Xã Hát Môn có diện tích 4,27 km² (433 ha), nằm ở phía bắc huyện Phúc Thọ, cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía Tây. Xã nằm ở ngã ba hợp lưu giữa sông Hồng (đoạn qua xã dài 2 km) và sông Đáy (sông Hát cổ, đoạn qua huyện dài 14,5 km). Vùng đất chia làm hai khu vực: vùng đồng trong đê (đất màu mỡ, tưới tiêu thuận lợi) và vùng bãi ngoài đê (xóm Lô Bê, Vạn Hát, đất phù sa bồi đắp). Do đặc điểm cửa sông, trong 150 năm (từ cuối thế kỷ XIX đến nay), khu vực Phúc Thọ và Hát Môn đã ghi nhận 60 trận vỡ đê, tiêu biểu là các trận vỡ đê Gốc Thị năm 1945, đê Tré Vỡ năm 1947 và lũ lịch sử năm 1971. Năm 1964, nhân dân địa phương đắp tuyến đê sông Hồng dài 8 km để ngăn lũ.
  • Lịch sử làng và biến đổi địa giới hành chính: Địa danh Hát Môn xuất hiện sớm trong thư tịch cổ (Lĩnh Nam chích quái, Dư địa chí). Trải qua các thời kỳ, Hát Môn lần lượt thuộc quận Giao Chỉ (thời Hán), Châu Phong (thời Đinh - Tiền Lê - Lý), lộ Quốc Oai (thời Trần), huyện Phúc Lộc thuộc phủ Quốc Oai (thời Hậu Lê - Nguyễn), đổi thành huyện Phúc Thọ từ năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Qua các lần sáp nhập hành chính (tỉnh Sơn Tây, Hà Tây, Hà Sơn Bình rồi Hà Nội), Hát Môn hiện là xã trực thuộc huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
  • Cơ cấu tổ chức làng xã truyền thống: Trước năm 1945, làng Hát Môn gồm Hội đồng Kỳ mục, Hội đồng Hương hội, Ban Lý dịch và được cơ cấu thành 5 giáp theo dòng họ: Đông Hạ, Đông Thượng, Nam Hạ, Nam Thượng, Trung, cùng với Giáp Xã (giáp trưởng - chuyên quản lý hành chính và phục vụ đền Hai Bà). Toàn làng có 20 "ông thôn" (mỗi giáp cử 4 người từ 4 phiên) có chân trong "phe văn" để điều hành tế tự. Phe văn Hát Môn có từ thế kỷ XVI-XVII, ban đầu có 4 phổ (Giáp, Ất, Bính, Đinh), sau phát triển thành 8 rồi 16 phổ. Dân số hiện nay gần 7.000 người, mật độ 1.666 người/km²; trong đó dòng họ Kim chiếm gần 4.000 người, bên cạnh 32 dòng họ khác (Ngọc, Trần, Đặng, Phạm...).
  • Đời sống kinh tế:
    • Nông nghiệp: Đất nông nghiệp chiếm 254 ha (60% diện tích tự nhiên), gồm 165 ha cấy lúa và 79 ha rau màu, vụ đông (đậu tương, cà chua) cùng hệ thống vườn cây ăn quả, ao cá mang lại thu nhập ổn định.
    • Tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp: Làng từng có nghề truyền thống đóng thuyền (xóm Phường/Trực Định), chài lưới (xóm Vạn Hát/Lô Bê) và làm bún. Từ thập niên 1990 phát triển nghề làm hàng mã và đặc biệt là nghề sản xuất tủ bếp với hơn 200 xưởng, thu hút hơn 1.000 lao động. Chợ Hát họp 6 phiên/tháng (vào các ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27 âm lịch), sầm uất nhất vào phiên tất niên 27 tháng Chạp.
  • Công trình kiến trúc tôn giáo, văn hóa: Ngoài đền Hai Bà, làng còn có Chùa Bảo Lâm (Bảo Lâm Tự, khởi dựng thế kỷ XVI, từng có pho tượng Cửu Long đồng đen cao 60 cm), Phủ Quận Công Nguyễn Ngọc Trì (thế kỷ XVII, có 19 tượng đá xanh và tượng chó đá), Quán Đức Ông (thờ Bạch Thạch Đại Vương), Quán Cả, hệ thống nhà thờ họ (họ Kim, họ Nguyễn Ngọc...) và Nhà thờ Giáo họ Hát Môn (đạo Thiên Chúa du nhập năm 1917, xây nhà thờ năm 1938, tái thiết năm 1995 với chuông nặng 1 tấn, hiện có khoảng 200 giáo dân).
Chỉ số / Đặc điểm Số liệu / Hiện trạng cụ thể tại xã Hát Môn
Tổng diện tích đất tự nhiên 433 ha (4,27 km²)
Cơ cấu đất nông nghiệp 254 ha (165 ha đất lúa; 79 ha đất rau màu; còn lại đất khác)
Cơ cấu đất phi nông nghiệp 179,57 ha (116 ha đất ở; 51,04 ha đất chuyên dùng/trụ sở; 33,15 ha đất giao thông; 7,62 ha mặt nước; 3,26 ha nghĩa trang; 1,55 ha tín ngưỡng)
Dân số và mật độ Gần 7.000 người; mật độ 1.666 người/km²
Thành phần dòng họ Họ Kim đông nhất (gần 4.000 người); 32 dòng họ khác cùng sinh sống
Cơ cấu kinh tế ngành nghề Nông nghiệp hàng hóa (lúa, rau an toàn vụ đông); tiểu thủ công nghiệp (hàng mã từ 1990, >200 xưởng tủ bếp với >1.000 lao động); thương nghiệp chợ Hát (6 phiên/tháng)
Công trình tín ngưỡng tiêu biểu Đền Hai Bà Trưng, Chùa Bảo Lâm, Phủ Quận Công (19 tượng đá), Quán Đức Ông, Quán Ngoại/Quán Tiên, Nhà thờ họ giáo Hát Môn

Chương 2: Đền Hai Bà Trưng ở Hát Môn

Chương này tập trung khảo sát lịch sử xây dựng, đặc trưng quy hoạch mặt bằng kiến trúc và tổ chức quản trị Đền Hai Bà Trưng:

  • Lịch sử xây dựng, trùng tu: Sau năm 43, nhân dân lập miếu tranh tre bên cửa sông Hát. Đầu thế kỷ XVII, Phong Quận công Nguyễn Ngọc Trì cùng dân làng xây lại bằng gạch ngói theo hướng hai cây muỗm. Năm Bính Dần (1866) niên hiệu Tự Đức, đền bị mối mọt nên được tu bổ mở rộng. Năm Kỷ Mão (1879), triều đình cấp 320 quan tiền đại tu. Ngày 13/8 năm Tân Tỵ (1881), bão lớn làm đổ cây đè nát miếu; đến năm Nhâm Ngọ (1882), đền nhận tiếp 320 quan tiền để xây dựng hoàn thành. Năm 1958-1959, dân làng dỡ đình lấy gỗ trùng tu Tam quan, Đại bái, Thiêu hương. Từ năm 1985 đến 2010, các cấp chính quyền và nhân dân đầu tư quy hoạch tổng thể khu di tích lên tới 8 ha.
  • Các đơn vị kiến trúc trong quần thể:
    • Quán Tiên (Quán Ngoại / Miếu Cô): Nằm trên thân đê sông Hát cổ, thờ bà hàng nước (được thần phả ghi nhận là Lục cung tiên nương) - người dâng bánh trôi và muỗm cho Hai Bà trước khi tuẫn tiết. Quán có 1 gian, tôn tạo năm 2010 với tường bao 4 bậc, hoành phi "Chân nhân tự" và đôi câu đối chữ Hán.
    • Gò Ngọc Ấn (Gò giấu Ấn): Nằm phía sau đền, nơi truyền thuyết ghi nhận quan thủ ấn chôn giấu quốc ấn trước khi Hai Bà tuẫn tiết. Tục đắp đất bồi gò cầu thọ của các cụ già duy trì đến năm 1944 và được tôn tạo, kè hồ năm 2006, 2010.
    • Đền chính: Xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc" trên gò đất cao ráo. Lối vào có 2 cột bia "Hạ mã", cổng tứ trụ thời Nguyễn đắp lân và phượng, cổng Tam quan 2 tầng 4 mái đao cong. Sân trước có 2 bàn thờ thần mộc dưới bóng cây si cổ thụ. Hai bên là dãy Tả mạc - Hữu mạc (mỗi dãy 5 gian tường hồi bít đốc, chứa trống đại đường kính 2m và nơi sửa lễ, họp việc làng).
    • Tòa Đại bái: Quy mô 5 gian 2 chái, diện tích dài 25,6 m, rộng 12,75 m, kết cấu 8 hàng cột với 6 hàng chân (tổng cộng 48 cột gỗ; cột cái cao >5m, đường kính 56 cm; cột quân đường kính 45 cm; cột hiên đường kính 35 cm). Gian giữa treo cửa võng chạm trổ và bức đại tự "Lạc Hùng chính thống" cùng đôi câu đối do danh sĩ Cao Bá Quát tiến cúng.
    • Hậu cung và Nhà Ngự Dội: Năm 1883, thực dân Pháp cướp mất hai pho tượng cổ của Hai Bà; đến năm 1992, tượng mới được tạc lại và đặt tại cung đệ nhị trước cung cấm. Nhà Ngự Dội (nhà tắm tượng) từng bị hợp tác xã trưng dụng làm cửa hàng bách hóa năm 1960, được dân làng quyên góp xây lại năm 1987 và trùng tu năm 2009.
    • Nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định: Xây dựng sau khi Thiếu tướng Nguyễn Thị Định từ trần (năm 1992-1993) để ghi nhớ công lao của bà đối với đền (thăm đền năm 1990, đề xuất tạc tượng Hai Bà); nhà tưởng niệm có bức hoành phi "Hộ Quốc Tý Dân".
  • Tổ chức quản lý và ruộng miếu: Trước năm 1945, 5 giáp luân phiên trông nom các khu vực kiến trúc (Đông Hạ coi Hậu cung - Thiêu hương; Đông Thượng coi Đại bái; Nam Hạ coi Hữu mạc; Nam Thượng coi Tả mạc; Trung coi Tam quan). Sau năm 1954, việc quản lý chuyển giao cho Ủy ban Hành chính/UBND xã và Ban bảo vệ di tích (năm 1968 có 16 cụ, năm 1996 tăng lên 40 người, năm 2008 là 90 người, hiện nay có 127 cụ gồm 45 cụ ông, 82 cụ bà). Ruộng miếu trước 1945 được phân bổ cụ thể theo từng loại hình dịch vụ tế tự (ruộng kèn, ruộng mã, ruộng bát âm, ruộng dầu thắp, ruộng chiếu bát, ruộng cụ từ, ruộng đuốc...). Năm 1988 xã cấp lại 4 sào 5 thước và năm 1993 cấp 3 mẫu 6 sào 6 thước trước cửa đền để Ban quản lý lấy hoa lợi chi dùng hương khói.
Niên đại / Giai đoạn Sự kiện xây dựng, trùng tu và biến cố kiến trúc
Năm 43 sau CN Khởi dựng ngôi miếu nhỏ bằng tranh tre nứa lá bên bờ sông Hát sau khi Hai Bà tuẫn tiết.
Đầu thế kỷ XVII Phong Quận công Nguyễn Ngọc Trì cùng chức dịch địa phương xây lại đền bằng gạch ngói theo hướng hai cây muỗm cổ thụ.
Năm Bính Dần (1866) Đền bị mối mọt hư hại, dân làng dùng la bàn đặt hướng cũ để tu bổ, mở rộng không gian.
Năm Kỷ Mão (1879) Đền tiếp tục bị mối xông; quan trên cấp 320 quan tiền để cải tạo, sơn son tường, dựng cây hương gỗ mít giữa cung.
Năm Nhâm Ngọ (1882) Khắc phục sự cố bão lớn làm đổ cây nát miếu (tháng 8/1881); nhận tiếp 320 quan tiền hoàn thành tái thiết.
Năm 1883 Thực dân Pháp chiếm đóng, cướp mất 2 pho tượng Hai Bà Trưng cổ trong Hậu cung.
Năm 1958 - 1959 Dỡ đình làng lấy vật liệu gỗ trùng tu các hạng mục Tam quan, Đại bái, Thiêu hương.
Năm 1987 - 1992 Xây dựng lại Nhà Ngự Dội (1987); chính thức tạc lại và phụng nghênh hai pho tượng Hai Bà Trưng vào Hậu cung (1992).
Năm 1993 - 2010 Xây dựng Nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định (1993); trùng tu tôn tạo Gò Ngọc Ấn, Quán Tiên, Nhà Dội và mở rộng quy hoạch tổng thể di tích lên 8 ha.

Chương 3: Lễ hội đền Hai Bà Trưng

Chương này mô tả chi tiết lịch trình tổ chức, các quy định nghi lễ và lễ tục đặc thù tại Đền Hát Môn:

  • Hệ thống các ngày lễ trong năm: Bên cạnh tuần tiết, sóc vọng (mùng một, ngày rằm) và lễ tế thần nông khi xuống đồng, làng tổ chức 3 kỳ đại lễ chính:
    1. Đại lễ mùng 6 tháng 3 âm lịch (Hội chính - Lễ giỗ Hai Bà): Tưởng niệm ngày Hai Bà tuẫn tiết. Đặc trưng lễ tục độc nhất vô nhị là Lễ dâng bánh trôi. Dân làng làm bánh trôi chay dâng cúng để tái hiện sự tích bà hàng nước dâng bánh trôi tiễn biệt Hai Bà. Bánh trôi được chuẩn bị nghiêm cẩn, do các gia đình phong quang, không có tang ma đảm nhận. Trong ngày này, có tục rước kiệu, tiến lễ bánh trôi và thả bánh trôi xuống dòng Hát Giang.
    2. Đại lễ mùng 4 tháng 9 âm lịch (Lễ khao quân): Tưởng niệm sự kiện Hai Bà Trưng tế cờ xuất quân và khao thưởng tướng sĩ tại căn cứ Hát Môn năm 40. Lễ vật trung tâm là các mâm cỗ mặn, thịt trâu, xôi ván để khao quân.
    3. Đại lễ ngày 24 tháng 12 âm lịch (Lễ Mộc dục và Dịch phục): Nghi lễ tắm tượng và thay trang phục cho Hai Bà chuẩn bị đón năm mới. Nước làm lễ mộc dục được lấy từ giữa dòng sông Hồng/sông Đáy vào ngày 23 tháng Chạp, rước về Nhà Ngự Dội lọc qua 2 lần cẩn thận. Vào quá nửa đêm 23 rạng sáng 24, các cụ cao niên cử hành đại lễ mộc dục, lau rửa tượng và thay áo bào mới trong không khí linh thiêng, tôn nghiêm trước khi phụng nghênh an vị.
  • Quy trình thực hành nghi lễ và bố trí ban thờ: Nghi thức tiến lễ gồm lễ tiến lệ làng, lễ tiến của dân chúng và khách thập phương, tiếp nối bằng nghi thức đại tế ngoài sân rồng với văn tế ca ngợi công đức Trưng Vương. Lễ hội duy trì việc dâng lễ tại 11 ban thờ với 12 mâm lễ (Ban thượng 2 lễ trước 2 pho tượng, Ban nội giám 2 lễ, Ban công đồng nội 1 lễ, 2 Ban văn võ 2 lễ, Ban công đồng ngoài 1 lễ, 2 Ban thần mộc ngoài sân rồng 2 lễ, Quán ngoại/Quán Tiên 1 lễ, Nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định 1 lễ).
  • Phẩm vật dâng cúng: Tiêu chuẩn mâm lễ truyền thống quy định chặt chẽ về xôi ván (mỗi ván xôi gồm 8 khuôn, mỗi khuôn đong 1 đấu gạo). Hội đồng chấm giải kiểm tra chất lượng xôi của từng giáp; ván xôi đạt giải cao nhất được dâng lên Cung nội, ván xôi không đạt tiêu chuẩn bị làng khiển trách công khai.
Kỳ Lễ / Thời gian Tính chất / Ý nghĩa lịch sử Phẩm vật và Nghi thức trung tâm
Đại lễ mùng 6 tháng 3 (Âm lịch) Lễ giỗ Hai Bà; kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng tuẫn tiết trên dòng Hát Giang (năm 43). Tục làm và dâng cúng bánh trôi chay (theo tích bà hàng nước); rước kiệu bánh trôi, tế lễ sân rồng và thả bánh trôi xuống dòng sông Hát.
Đại lễ mùng 4 tháng 9 (Âm lịch) Lễ khao quân; kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng hội quân, luyện tập binh đao và tế cờ xuất kích (năm 40). Nghi lễ tế cờ xuất quân; dâng cỗ mặn khao quân, mâm xôi ván 8 khuôn (1 đấu gạo/khuôn) chấm điểm phẩm cách giữa các giáp.
Đại lễ 24 tháng 12 (Âm lịch) Lễ Mộc dục và Dịch phục; làm lễ tắm rửa tượng thánh và thay trang phục chuẩn bị đón Tết. Tổ chức lấy nước sạch giữa dòng sông Đáy/sông Hồng chiều 23, lọc 2 lần tại Nhà Ngự Dội; quá nửa đêm làm lễ tắm tượng và thay long bào bí truyền.
Lễ Sóc, Vọng, Lễ thường Các tuần tiết mùng 1, ngày Rằm, giỗ bà Nguyễn Thị Định (28/7 âm lịch), lễ hạ điền. Hương hoa, trầu cau, xôi oản; duy trì tiến lễ đồng bộ trên 11 ban thờ (12 mâm lễ) trong toàn bộ khuôn viên di tích.

Chương 4: Ảnh hưởng của đền và lễ hội Hai Bà Trưng đến nhân dân Hát Môn

Chương này tổng kết chiều sâu ảnh hưởng của di sản đối với đời sống cộng đồng:

  • Biểu tượng của tinh thần yêu nước và bất khuất: Hình tượng Hai Bà Trưng trở thành điểm tựa tâm linh vững chắc cho nhân dân Hát Môn qua mọi thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm và bảo vệ đê điều chống thiên tai bão lũ.
  • Hạt nhân gắn kết cộng đồng làng xã: Không gian đền và các kỳ đại lễ đóng vai trò kết nối các dòng họ (họ Kim, họ Nguyễn Ngọc, họ Đặng...) và các xóm thôn. Mọi thành viên từ già đến trẻ đều tự giác tham gia các nghĩa vụ phục vụ lễ hội, tạo nên sự đồng thuận xã hội cao.
  • Động lực thúc đẩy văn hóa - giáo dục và kinh tế: Tục vọng phe văn, coi trọng học vấn từ thời phong kiến được duy trì và chuyển hóa thành truyền thống hiếu học ngày nay. Tinh thần độc lập, tự chủ của Hai Bà Trưng tiếp tục là động lực tinh thần để người dân Hát Môn chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công từ thuần nông sang phát triển nghề mộc dân dụng, tủ bếp và dịch vụ thương mại hiện đại.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả khoa học và đóng góp cụ thể:

  1. Hệ thống hóa toàn diện tư liệu địa phương học: Khóa luận tập hợp đầy đủ dữ liệu về điều kiện địa lý (433 ha), thổ nhưỡng, mạng lưới thủy văn sông Hồng (2 km) và sông Đáy (14,5 km), lịch sử đê điều (60 trận vỡ đê trong 150 năm) và biến đổi địa giới hành chính của làng xã Hát Môn từ thời Bắc thuộc đến năm 2014.
  2. Khảo tả chi tiết kiến trúc nghệ thuật di tích quốc gia đặc biệt: Tác giả cung cấp số liệu kiến trúc chính xác của tòa Đại bái Đền Hát Môn (48 cột gỗ mít, cột cái cao >5m, đường kính 56 cm; mặt bằng 25,6m x 12,75m) và hệ thống điêu khắc chạm lộng mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê (thế kỷ XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX).
  3. Phục dựng bức tranh sinh hoạt lễ tục và tổ chức quản trị truyền thống: Khóa luận ghi chép tỉ mỉ cấu trúc 5 giáp cổ truyền, cơ chế vận hành của 20 ông thôn, phân công sử dụng các loại ruộng miếu phục vụ tế tự, cùng quy trình thực hành 3 kỳ đại lễ (đặc biệt là lễ dâng bánh trôi mùng 6/3 và lễ mộc dục đêm 23 rạng 24 tháng Chạp).
  4. Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khác với các công trình nghiên cứu sử học của Đào Duy Anh, Vũ Tuấn Sán hay Nguyễn Vinh Phúc vốn chỉ nhìn nhận Hát Môn như một địa danh quân sự trong khởi nghĩa năm 40, khóa luận này là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tổng thể, liên ngành (địa chí - kiến trúc - tôn giáo - xã hội học) về toàn bộ di sản Đền và Lễ hội Hai Bà Trưng tại chính quê hương Hát Môn.

Về mặt giải pháp, tác giả kiến nghị chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý văn hóa:

  • Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch mở rộng khuôn viên di tích lên 8 ha gắn với hệ thống giao thông (mở 4 tuyến đường vào đền);
  • Khôi phục nguyên vẹn các tập tục truyền thống có giá trị như tục đắp đất gò Ngọc Ấn của các cụ thượng thọ đầu xuân;
  • Xây dựng vùng sản xuất rau an toàn và di dời hơn 200 xưởng mộc tủ bếp ra khỏi khu dân cư để bảo vệ môi trường cảnh quan du lịch di sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế do điều kiện tư liệu và phạm vi nghiên cứu:

  • Nhiều bộ gia phả cổ của các dòng họ lớn tại Hát Môn đã bị thất lạc hoàn toàn trong trận lũ lụt vỡ đê năm Ất Dậu (1945) và các cuộc chiến tranh, khiến việc xác định mốc thời gian định cư chính xác của từng dòng họ trước thế kỷ XVII gặp khó khăn.
  • Chưa tiến hành dịch thuật và khảo chứng toàn văn 12 văn bia Hán Nôm cùng 22 đạo sắc phong hiện còn lưu giữ tại đền do giới hạn dung lượng của một khóa luận đại học.

Hướng nghiên cứu tiếp nối được gợi mở bao gồm: Dịch chú toàn bộ văn bia Hán Nôm và sắc phong tại Hát Môn; đối chiếu so sánh nghi thức thờ cúng Hai Bà Trưng giữa đền Hát Môn (Phúc Thọ) với đền Hạ Lôi (Mê Linh) và đền Đồng Nhân (Hai Bà Trưng, Hà Nội) để làm rõ tính thống nhất và sắc thái dị biệt trong không gian văn hóa phụng thờ Trưng Vương vùng châu thổ Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Việt Nam học, Lịch sử, Văn hóa học, Tín ngưỡng dân gian và Bảo tồn di sản văn hóa khi nghiên cứu về khởi nghĩa Hai Bà Trưng và không gian văn hóa Xứ Đoài.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền địa phương huyện Phúc Thọ trong việc xây dựng hồ sơ bảo tồn, quy hoạch không gian Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn và tổ chức lễ hội truyền thống chuẩn mực.
  • Hướng dẫn viên du lịch và du khách thập phương cần tra cứu thông tin lịch sử, quy cách dâng lễ và ý nghĩa các công trình kiến trúc cổ tại đền Hát Môn.

Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là hệ thống miêu tả chi tiết về cấu trúc quản trị 5 giáp, quy định phân bổ hoa lợi ruộng miếu (Chương 2) và quy trình thực hành lễ tục mộc dục, dâng bánh trôi (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nhân dân Hát Môn có phong tục dâng cúng bánh trôi vào ngày giỗ Hai Bà Trưng mùng 6 tháng 3 âm lịch?
Trả lời: Tục dâng bánh trôi xuất phát từ truyền thuyết lịch sử địa phương: sau những trận đánh khốc liệt chống quân Mã Viện năm 43, Hai Bà Trưng rút về cửa sông Hát và dừng chân tại quán nước của một phụ nữ địa phương (sau được tôn thờ là Lục cung tiên nương tại Quán Tiên). Bà hàng nước đã kính cẩn dâng lên Hai Bà hai đĩa bánh trôi và hai quả muỗm trước khi Hai Bà nhảy xuống dòng Hát Giang tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết. Hàng năm vào ngày mùng 6/3, dân làng làm bánh trôi chay dâng tế để tri ân sự kiện này.

2. Tòa Đại bái Đền Hai Bà Trưng Hát Môn có quy mô và đặc trưng kiến trúc như thế nào?
Trả lời: Tòa Đại bái gồm 5 gian 2 chái, dài 25,6 m, rộng 12,75 m, nền cao hơn sân đình 50 cm. Khung gỗ gồm 8 hàng cột với 6 hàng chân (tổng cộng 48 cột gỗ mít; cột cái cao >5m đường kính 56 cm; cột quân đường kính 45 cm; cột hiên đường kính 35 cm). Nghệ thuật điêu khắc nổi bật với các mảng chạm rồng thời Hậu Lê (thế kỷ XVIII) và Tứ linh thời Nguyễn, gian giữa treo bức đại tự "Lạc Hùng chính thống" cùng đôi câu đối của thi sĩ Cao Bá Quát.

3. Vì sao trong khuôn viên Đền Hai Bà Trưng lại có Nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định?
Trả lời: Ngày 6/3 năm Canh Ngọ (1990), Thiếu tướng Nguyễn Thị Định (nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) đã về thăm đền và đóng góp ý kiến quan trọng trong việc tạc lại tượng Hai Bà Trưng. Bà bày tỏ nguyện vọng được gắn bó với di tích sau khi qua đời. Sau khi bà mất năm 1992, chính quyền và Ban quản lý đền đã lập nhà tưởng niệm bà tại khuôn viên đền, tổ chức cúng giỗ vào ngày 28/7 âm lịch hàng năm và xem đây là một trong 11 ban thờ chính thức của di tích.

4. Trước năm 1945, làng Hát Môn tổ chức phân chia trách nhiệm trông nom đền và sử dụng ruộng miếu như thế nào?
Trả lời: Làng phân công cho 5 giáp trông coi từng khu vực kiến trúc: giáp Đông Hạ coi Hậu cung và Thiêu hương; Đông Thượng coi Đại bái; Nam Hạ coi Hữu mạc; Nam Thượng coi Tả mạc; giáp Trung coi Tam quan. Hoa lợi ruộng miếu được cấp cụ thể theo từng mục đích: ruộng kèn, ruộng mã, ruộng bát âm, ruộng dầu thắp, ruộng chiếu bát, ruộng cụ từ, ruộng đuốc; mỗi giáp được giao 5 mẫu ruộng để lấy hoa lợi sửa miếu và sắm từ 5 đến 8 ván xôi (mỗi ván 8 khuôn) phục vụ đại lễ.

5. Đền Hai Bà Trưng ở Hát Môn được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào thời gian nào?
Trả lời: Ngày 11/12/2013, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Đền Hai Bà Trưng ở Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) đã chính thức được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt, trở thành 1 trong 48 di tích quốc gia đặc biệt đầu tiên của cả nước.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Đền và lễ hội Hai Bà Trưng ở Hát Môn" của tác giả Phạm Đình Tuân là một công trình nghiên cứu chuyên khảo công phu, nghiêm túc về mặt học thuật thuộc ngành Việt Nam học. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa nguồn tư liệu thư tịch Hán Nôm cổ truyền và khảo sát điền dã thực địa, tác giả đã tái hiện sinh động diện mạo lịch sử, giá trị kiến trúc nghệ thuật và chiều sâu văn hóa tâm linh của Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn. Công trình không chỉ khẳng định vị thế trung tâm của vùng đất Hát Môn trong tiến trình lịch sử cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 mà còn cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho công tác bảo tồn di sản và phát triển văn hóa - kinh tế địa phương.