CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm di sản văn hóa 1.Khái niệm di sản văn hóa Di sản đề cập đến một cái gì đó thừa hưởng từ quá khứ. Từ này có nhiều khía cạnh khác nhau. Theo nghĩa thông thường là những gì được thừa hưởng lại của người đã mất.
Theo Tiếng Việt thông dụng, di sản được hiểu là tài sản thuộc sở hữu của người đã chết để lại (ví dụ: kế thừa tài sản của bố mẹ); giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại (ví dụ: di sản văn hóa). Di sản văn hóa quy định tại Luật Di sản văn hóa năm 2001 định nghĩa: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.2 Khái niệm di sản văn hóa vật thể Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Những loại hình sau đây được coi như là “di sản văn hóa”: - Di tích kiến trúc (monument): các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bia ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. - Nhóm công trình xây dựng (group of building): các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu.
1 0 0 - Các di chỉ (sites): các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. Theo Công ước 1972, những loại hình sau đây được coi là “di sản thiên nhiên”: - Các cấu tạo tự nhiên (natural features): bao gồm các thành tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộc loại đó, mà xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu; - Các thành tạo địa chất và địa văn (geological and physiographical formations): là các khu vực được khoanh vùng chính xác làm nơi cư trú cho các loài động vật và thảo mộc bị đe dọa, mà xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. - Các di chỉ tự nhiên (natural sites): hoặc các khu vực tự nhiên đã được khoanh vùng cụ thể mà xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là có giá trị nổi tiếng toàn cầu.3 Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Theo UNESCO năm 2003 định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.
Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan 2 0 0 hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với một sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”. “Di sản văn hóa phi vật thể” được thể hiện ở những hình thức sau: - Tiếng nói, chữ viết của dân tộc Việt Nam; - Ngữ văn dân gian, bao gồm sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết; - Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác; - Tập quán xã hội bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác; - Lễ hội truyền thống; - Tri thức dân gian, bao gồm tri thức về thiên nhiên, đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác.2 Chức năng của di sản văn hóa 1.1 Chức năng nghiên cứu di sản Nghiên cứu là đi tìm những thông tin mới, những thông tin này hoặc trên cơ sở khảo sát, thực nghiệm, thí nghiệm hay trên cơ sở những dữ liệu rời rạc mà tổng hợp, so sánh để tìm những thông tin mới. Nghiên cứu di sản là một dạng hoạt động xã hội, hướng vào phát hiện bản chất của di sản; sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới để bảo tồn và phát huy di sản. Một số loại nghiên cứu di sản như: - Nghiên cứu tư liệu hóa di sản: giám định thông tin về di sản, giám định tính xác thực của di sản.
3 0 0 - Nghiên cứu giá trị và ý nghĩa của di sản: di sản văn hóa – thông điệp của quá khứ; di sản văn hóa – lịch sử tiềm ẩn; di sản văn hóa – bảng giá trị tinh thần của một cộng đồng xã hội. - Nghiên cứu công dụng di sản: di sản văn hóa là tài sản văn hóa của một cộng đồng.2 Chức năng bảo tồn di sản 1.1 Khái niệm bảo tồn di sản Bảo tồn là những nổ lực nhằm tìm hiểu và nhận rõ được các giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp khi cần thiết. Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động đặc trưng của con người để nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định duy trì tính xác thực của các quá trình phát triển và đa dạng các di sản văn hóa nhằm phát triển bền vững cho thế hệ hiện tại và tương lai.2 Nguyên tắc bảo tồn di sản Phương châm là bảo quản phòng ngừa là chính nhằm gìn giữ di tích ổn định lâu dài, tu bổ phục hồi là giải pháp cấp cứu. Di tích có thể sử dụng và phát huy phục vụ nhu cầu xã hội theo những chuẩn mực khoa học đã được xác định.
Sử dụng và phát huy các mặt giá trị di tích cũng chính là biện pháp bảo tồn có hiệu quả nhất. Bảo tồn di sản văn hóa phải triển khai song song và phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại, phát triển phải kết hợp với bảo tồn di sản văn hóa.3 Biện pháp bảo tồn di sản văn hóa vật thể Việc bảo tồn và trùng tu di tích cần phải có sự viện cầu đến mọi khoa học và kỹ thuật nào có thể góp phần vào việc nghiên cứu và giữ gìn bảo vệ di sản văn hóa. Việc bảo tồn và trùng tu di tích nhằm mục đích giữ gìn bảo vệ các di tích là công trình nghệ thuật cũng như là chứng tích lịch sử. Điều chủ yếu đối với việc bảo tồn di tích là làm cho các di tích đó được duy trì bền lâu.
4 0 0 Việc bảo tồn di tích luôn được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách sử dụng những di tích đó vào một mục đích hữu ích cho xã hội, song phải không được biến đổi bố cục hoặc trang trí của công trình. Việc bảo tồn một di tích bao hàm bảo tồn một khung cảnh nằm trong phạm vi liên quan đến di tích. Một di tích là không thể tách rời khỏi lịch sử mà nó là chứng nhân không thể tách rời khỏi khung cảnh mà nó tọa lạc. Vì vậy việc di chuyển toàn bộ hoặc bộ phận di tích là không được phép làm, trừ phi do đòi hỏi của việc bảo vệ di tích đó hoặc vì những lý do xác thực, vì lợi ích quốc gia, quốc tế hết sức quan trọng.
Những bức điêu khắc, tranh họa, hoặc trang trí vốn hợp thành bộ phận hữu cơ của di tích chỉ được phép bóc gỡ khỏi di tích nếu cách đó là biện pháp duy nhất để đảm bảo được việc bảo tồn những thứ đó. Tiến trình trùng tu là một thao tác có tính chuyên môn cao. Mục đích của trùng tu là bảo tồn và làm lộ ra giá trị thẩm mỹ và lịch sử của di tích, và phải dựa trên cơ sở tôn trọng vật liệu gốc và các dữ liệu xác thực. Ở đâu mà kỹ thuật truyền thống tỏ ra bất cập thì để đảm bảo việc gia cố di tích ở chỗ đó, có thể dùng mọi kỹ thuật hiện đại về bảo tồn và xây dựng.
Tính hiệu quả của thao tác này phải được chứng minh bằng cứ liệu khoa học và được kinh nghiệm bảo đảm. Những phần đóng góp có giá trị ở mọi thời kỳ vào việc xây dựng di tích cần phải được tôn trọng, vì tính thống nhất của phong cách không phải là mục tiêu cần đạt được của trùng tu. Những bộ phận dùng để thay thế vào những chỗ trống phải hài hòa với tổng thể, đồng thời phải phân biệt được với phần nguyên gốc; có như vậy việc trùng tu mới không làm sai lệch cứ liệu nghệ thuật hoặc lịch sử. Các phần xây đắp thêm chỉ được chấp nhận ở mức độ chúng vẫn tôn trọng các bộ phận độc đáo của tòa kiến trúc, khung cảnh truyền thống của kiến trúc, tính cân đối của bố cục kiến trúc và mối quan hệ của kiến trúc với môi trường xung quanh.