phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia ra làm bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quát về đề tài Chƣơng 2: Diện mạo và đặc điểm của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng thức nghệ thuật biểu hiện nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam Chƣơng 4: Giá trị văn hóa của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam. 14 z CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Truyện cổ tích và nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích Việt Nam 1. Khái niệm truyện cổ tích Các nhà nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian đã đƣa ra nhiều quan niệm, khái niệm về truyện cổ tích, điều đó phản ánh tính phong phú, phức tạp của thể loại này.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa thật chính xác, phổ quát tuyệt đối trong quan niệm của các nhà nghiên cứu. Trong ngôn ngữ Châu Âu có rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ truyện cổ tích. Ngôn ngữ Anh sử dụng thuật ngữ ghép Antique Vestiget (trong đó Antique là cổ xƣa, là cũ còn Vestiget là vết tích, dấu tích). Thuật ngữ này có nội hàm khá rộng, tƣơng ứng với ý nghĩa “truyện cổ”, “truyện đời xƣa” tức là nhằm chỉ tất cả các loại truyện dân gian.
Ngôn ngữ Pháp ngày nay hai thuật ngữ đƣợc dùng để chỉ truyện cổ tích là Cotes-bleu (truyện hoang đƣờng) và Contes-de-fées (tiêu thoại) hoặc một thuật ngữ chỉ chung cả hai truyện đó là Contes-populaire (Contes là chuyện bịa đặt, còn populaire là thuộc về dân gian). Các nhà khoa học Nga định nghĩa Ckazka là một trong những thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự lấy hƣ cấu làm cơ sở cho sự sáng tạo, dẫu rằng nó nói về những chuyện phiêu lƣu (Avanchiur) hay chuyện thế sự… Ckazka là những dạng khác nhau của loại hình tự sự truyền miệng: truyện kể về loài vật, chuyện thần kỳ, chuyện phiêu lƣu, chuyện trào phúng châm biếm. Theo các nhà nghiên cứu Xô Viết thì cổ tích là một chỉnh thể nghệ thuật tổng hợp các đặc điểm nhƣ: tính trần thuật, tính tƣởng tƣợng hƣ cấu, tính giáo huấn. Dĩ nhiên nó là truyện cổ dân gian, lƣu truyền bằng miệng v.v… Ở nƣớc ta hiện nay trong các giáo trình văn học dân gian hay trong các công trình nghiên cứu, các tác giả ít đƣa ra những định nghĩa và truyện cổ tích, mà chỉ đƣa ra những đặc trƣng chung để xác định thể loại.
Quá trình nghiên cứu truyện cổ 15 z tích ở nƣớc ta gắn liều với sự nhận thức về thể loại đƣa đến sự phân biệt các thể loại truyện dân gian khác nhau. Trong thực tế, sự lẫn lộn nội dung hai khái niệm truyện cổ và truyện cổ tích không chỉ ở nƣớc ta mà đó gần nhƣ một hiện tƣợng của nhiều dân tộc trên thế giới. Trong quá trình đi tìm một định nghĩa đúng đắn cho thể loại này, các nhà nghiên cứu folklore đã xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau. Một khuynh hƣớng cho rằng, có thể định nghĩa truyện cổ tích thông qua việc nhận biết những cốt truyện; khuynh hƣớng khác lại nhấn mạnh khả năng tin hoặc không tin của ngƣời nghe vào “tính khác thƣờng” của cốt truyện cổ tích.
Ngƣời khác lại coi trọng sự phản ánh hiện thực một cách có ý thức của truyện cổ tích, v.v… Trƣớc cách mạng tháng Tám, truyện cổ tích thƣờng đƣợc gọi là “truyện đời xƣa”, dùng để chỉ chung các loại truyện dân gian, truyền miệng. Về sau, phạm vi truyện cổ tích đƣợc thu hẹp dần, dùng để chỉ một loại riêng biệt. Việc xác định thể loại truyện cổ tích ở nƣớc ta càng ngày càng khó khăn vì bản thân truyện cổ tích Việt Nam mang tính chất phức tạp và có xu hƣớng đan xen vào các thể loại khác nhƣ thần thoại, truyền thuyết. Những năm gần đây, các nhà khoa học có xu hƣớng tách riêng truyện cổ tích thành một thể loại độc lập, ra khỏi nhóm truyện dân gian.
Nhƣng nhiều khi quan niệm cũ vẫn ảnh hƣởng đến cách trình bày của các tác giả. Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên chủ biên) vẫn xếp truyền thuyết vào loại truyện cổ tích lịch sử. Khi định nghĩa truyện cổ tích tác giả cũng không đƣa ra định nghĩa cụ thể mà hiểu nó thông qua cách đối chiếu với thần thoại: “Thần thoại là những truyện mà nhân vật là thần, còn truyện cổ tích thì nhân vật là ngƣời; Thần thoại là sáng tác dân gian thời nguyên thủy; còn truyện cổ tích là sản phâm của xã hội thị tộc đã tan rã, phản ánh đấu tranh xã hội; Thần thoại hấp dẫn bằng những hình tƣợng mỹ lệ, táo bạo, còn truyện cổ tích lôi cuốn chúng ta vào những nỗi niềm vui khổ, không khí đâu tranh chống cƣờng quyền…” [28]. Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã khái quát từ hàng loạt định nghĩa về truyện cổ tích: 16 z Theo ông truyện cổ tích nảy sinh từ trong xã hội nguyên thủy do đó có những yếu tố phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tƣợng tự nhiên và xã hội có ý nghĩa ma thuật….
Chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội, phản ánh nhận thức của nhân dân về những xung đột đặc trƣng cho các thời kỳ lịch sử khi đã có chế độ tƣ hữu tài sản, có gia đình riêng, có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Truyện cổ tích biểu hiện cách nhìn nhận hiện thực của nhân dân đối với thực tại, đồng thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan điểm về công lý xã hội và ƣớc mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại; Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tƣởng tƣợng phong phú của nhân dân và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tƣởng tƣợng kỳ ảo tạo nên một đặc trƣng nổi bật trong phƣơng pháp phản ánh hiện thực và ƣớc mơ. Bàn về khái niệm truyện cổ tích với tƣ cách là một thể loại tự sự dân gian, nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi có nhận xét: “Khi nói đến truyện cổ tích hay truyện đời xƣa chúng ta đều sẵn có quan niệm cho rằng đó là một danh từ chung bao gồm hết thảy mọi truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lƣu truyền qua các thời đại. Cũng vì thế, xác định nội dung từng loại truyện khác nhau để đi đến phân loại truyện cổ vẫn là một công việc hứng thú và luôn có ý nghĩa.
Tuy nhiên cho đến lúc này công việc đó vẫn chƣa hoàn thành và chƣa có một ý kiến nào khả dĩ gọi là thỏa đáng”. [7, tr11-12] Xét về mặt từ nguyên, truyện cổ tích là thuật ngữ có gốc Hán Việt đƣợc hiểu là những truyện xƣa nay còn để lại dấu vết (cổ: xƣa, tích: vết), ví dụ: Sự tích trầu cau, Sự tích cây nêu ngày tết, Sự tích trái sầu riêng… Các giải thích nhƣ thế không bao hàm phạm vi sáng tác truyện cổ tích, không trùng với nội hàm khái niệm “truyện cổ tích”, vì rất nhiều truyện không tìm thấy dấu vết hay mối liên hệ của nó với thực tế. Trong cuốn Giáo trình văn học dân gian (PGS.TS Vũ Anh Tuấn chủ biên) thì ông đƣa ra nhận định khái quát nhƣ sau: “Truyện cổ tích là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kỳ ảo để thể hiện cái nhìn hiện 17 z thực của nhân dân đối với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng nhƣ về công lý xã hội và ƣớc mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động” [50]. Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, giáo sƣ Lê Chí Quế trình bày khái niệm “truyện cổ tích” thông qua việc xác định bản chất thể loại của nó.
Theo ông, “Truyện cổ tích là sáng tác dân gian trong loại hình tự sự mà thuộc tính của nó là xây dựng trên những cốt truyện; truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật đƣợc xây dựng thông qua sự hƣ cấu nghệ thuật thần kỳ; truyện cổ tích là một thể loại hoàn chỉnh của văn học dân gian, đƣợc hình thành một cách lịch sử. Đặc biệt, giáo sƣ Chu Xuân Diên, trong chuyên luận Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học, đã phân tích khá sâu sắc nội hàm khái niệm “cổ tích”. Ông viết: “Cổ tích là một từ Hán Việt. “Cổ” có nghĩa là xƣa, cũ.
Ta có khái niệm “truyện cổ” (hoặc “truyện cổ dân gian”), “truyện đời xƣa” dùng để chỉ nhiều loại truyện dân gian khác nhau, trong đó có truyện cổ tích. các loại truyện cổ khác nữa (cả thành văn lẫn dân gian)” [11, tr. Sau khi diễn giải, ông nhấn mạnh, khái niệm “truyện cổ tích” bao hàm ba yếu tố nghĩa: “Truyện cổ tích là truyện kể; truyện kể này có quan hệ với thời quá khứ xa xƣa cả về nội dung lẫn nguồn gốc phát sinh; dấu tích của truyện kể này vẫn còn lại cho đến nay” [11, tr. Trong cuốn Từ điển văn học, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (1998) cũng đã nêu ra định nghĩa khá đầy đủ và xác đáng: “Truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thủy song phát triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp, chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội.
Nó biểu hiện cái nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực tại, đồng thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan niệm về công lý xã hội và ƣớc mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại. Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tƣởng tƣợng phong phú của nhân dân, yếu tố tƣởng thần kỳ tạo nên một đặc trƣng nổi bật trong phƣơng thức phản ánh hiện thực và ƣớc mơ” [25]. Từ những phát biểu trên, chúng tôi nhận thấy truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân gian có những đặc điểm khái quát sau: Truyện cổ tích là những sáng tác tự sự dân gian, có cốt truyện hoàn chỉnh; chủ yếu dựa trên nhiều yếu tố tưởng tượng, kỳ 18 z ảo, hoang đường; truyện kể về những sự tích đời xưa và dấu tích truyện kể còn lưu cho đến nay. Cổ tích là loại truyện có nhiều yếu tố kỳ ảo nhất.
Truyện cổ tích còn có một phần là tàn dƣ của những tƣởng tƣợng gắn liền với mê tín, ma thuật đồng bóng và các hình thức tôn giáo của con ngƣời nguyên thủy. Tác giả của loại truyện này nhiều khi đã dùng những lực lƣợng siêu nhiên để thắt nút, mở nút câu chuyện mà không cần biết có hợp lý hay không.