phần mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu và danh mục tài liệu tham khảo, các công trình đã công bố, nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương, 9 tiết. luan an 5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích Việt Nam Để có thể hiểu và phân tích được những tư tưởng triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam thì trước hết cần phải hiểu được thế nào là triết lý, triết lý nhân sinh. Hiện nay đã có một số tài liệu, công trình được công bố có giá trị liên quan đến vấn đề triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý Cuốn Từ điển và danh từ triết học (1966) của tác giả Trần Văn Hiến Minh [73]. Đây là cuốn từ điển rất phong phú bao gồm cả thuật ngữ của triết học cổ, triết học kinh viện, triết học cận đại, hiện đại và đặc biệt trong phần từ điển, tác giả đã cắt nghĩa rất nhiều danh từ triết học phương Đông. Trong cuốn sách này, có các khái niệm quan trọng đối với luận án như khái niệm triết lý, nhân sinh. Triết lý là “Cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay của một sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ” [73, tr.280], khái niệm nhân sinh là “đời người” [73, tr.167] Bài viết Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý của Hồ Sĩ Quý đăng trên tạp chí Triết học số 3/1998 đã có sự so sánh giữa hai khái niệm triết học và triết lý “Nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ thống độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy.
Nói một cách khác, nếu không phải là tất cả thì cũng là trong đa số các trường hợp, triết lý thường thiếu chặt chẽ hơn, phiến diện hơn và có nhiều khả năng chứa đựng mâu thuẫn hơn so với triết học"[95] Bài viết của Tô Duy Hợp, Giá trị bền vững của triết lý dân gian trong toàn cầu hóa [53] trong hội thảo quốc tế tại Viện Triết học năm 2005: “sức mạnh của triết lý được thể hiện không chỉ thông qua quá trình ứng dụng triết lý đó vào đời sống … mà có ngay trong nội dung của nó. Có điều là phải nhờ công luan an 6 cụ của triết học và khoa học hiện đại mới sáng tỏ được sức mạnh tiềm ẩn đó… Chắc chắn là sẽ còn nhiều thách thức có thể còn to lớn hơn so với những thách thức trong lịch sử. Nhưng sức sống và giá trị của triết lý dân gian sẽ bền vững trong tiến trình đẩy mạnh quốc tế hoá và toàn cầu hoá”. Trong bài viết Văn hóa, triết lý và triết học (2008) [33] của Lương Đình Hải đã làm rõ được nội hàm khái niệm về triết lý.
Tác giả cho rằng, trong các triết lý đã thể hiện những quan niệm khác nhau về các yếu tố cơ bản và các mặt hoạt động sống của con người: vị trí con người, các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần và các giá trị của cuộc sống con người. Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các nội dung, chương trình phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể hóa bằng những quan niệm cụ thể hơn, định hướng cho hoạt động của các cá nhân và cộng đồng. Vũ Minh Tâm với bài viết Triết lý truyền thống ở Việt Nam về vũ trụ (2009) [113] đã chỉ rõ vai trò của triết lý đối với đời sống của con người. Tác giả đã cho rằng, đối với người xưa, triết lý là phương thức, công cụ hữu dụng, hiệu nghiệm để nắm bắt thế giới hiện thực, đưa dẫn nhận thức có tính bách khoa, tổng hợp, khái quát, trừu tượng và dự báo vào đời sống thực tiễn và giáo dục con người.
Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm khác nhau của các tác giả về khái niệm “triết lý”, là cơ sở lý luận cho nghiên cứu sinh tham khảo trong luận án của mình. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh Tìm hiểu về vấn đề triết lý nhân sinh đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như: Cuốn Những hiểu biết về cuộc đời [32] (2001) của Trịnh Hiếu Giang và Nguyễn An đã cung cấp cho người đọc trí tuệ phong phú của các nhà hiền triết trong lịch sử nhân loại về bản chất sinh mệnh, nội dung của đời người, trạng thái sinh tồn, các kỹ xảo cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc. Đặc biệt các tác giả đi sâu phân tích cuộc đời của các nhà hiền triết Trung Quốc thời xưa, từ đó liên hệ các trạng thái đời người hiện đại. luan an 7 Trong cuốn Mạn đàm nhân sinh (2008) [127] của Nguyễn Thế Trắc, những vấn đề nhân sinh quan như mối quan hệ: Thiên – Địa – Nhân với kiếp người, quan niệm về họa, phúc với đời người; quan niệm tu thân, tích đức, hoàn thiện nhân cách.đã được trình bày khá rõ nét.
Tác giả đã phân tích một cách sâu sắc những triết lý sống cần thiết cho con người hiện nay, cũng như hướng con người tới những giá trị của cuộc đời. Cuốn sách Triết lý nhân sinh cuộc đời (2009) [78] của Nguyễn Gia Linh, Duyên Hải, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội có cách trình bày logic và khoa học, các vấn đề nhân sinh, ý nghĩa nhân sinh trên các bình diện khác nhau, qua đó người đọc có thể rút ra những suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề của bản thân một cách hiệu quả. “Triết lý nhân sinh của cuộc đời chính là cây đèn soi sáng để bạn đi đến lý tưởng, thành công”. Cuốn Hành trình nhân sinh quan: Phản tính trên đường trải nghiệm (2011) [122] của tác giả Nguyễn Tất Thịnh đã đề cập nhiều vấn đề của cuộc sống.
Nhằm chia sẻ những trải nghiệm sống, giúp người đọc tìm cho mình những bài học quý giá của nhân sinh, những kỹ năng sống, cách ứng xử chân – thiện – mỹ để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn và luôn có cái nhìn lạc quan vào cuộc sống. Trong cuốn Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam (2016) [134] của tập thể khoa Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trần Đăng Sinh đã đưa ra khái niệm về triết lý nhân sinh “Triết lý nhân sinh là quan điểm, quan niệm của con người và cuộc sống của họ, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người, là sự định hướng, phương trâm hành xử của con người trong cuộc sống” [134, tr. Cũng trong cuốn sách này, Lê Văn Đoán cũng đưa ra một quan niệm khác về triết lý nhân sinh “triết lý nhân sinh là quan niệm chung sâu sắc của con người về cuộc sống, về mối quan hệ và cách ứng xử giữa người với người trong đời sống từ gia đình cho đến ngoài xã hội. Về thực chất thì triết lý nhân sinh là một bộ phận thuộc nhân sinh quan, trong đó bao gồm những quan niệm về cuộc sống của con người, nó trả lời cho các câu hỏi: Lẽ sống của con luan an 8 người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? [134, tr.
Luận án tiến sĩ của Ngô Gia Tuệ (2018) [117] về“Triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII”. Trong quá trình nghiên cứu triết lý nhân sinh của Đạo gia, tác giả cũng đã đưa ra những nhận định về khái niệm triết lý nhân sinh: “nhân sinh là đời người, mà đời người là những vấn đề về con người, về đời sống con người, bao gồm đời sống vật chất và tinh thần, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển con người và xã hội…Triết lý nhân sinh là cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu về đời người, được con người rút ra từ hoạt động thực tiễn của mình và chỉ dẫn, định hướng cho cách ứng xử, hành động của mỗi cá nhân hoặc cộng đồng”[117, tr. Các công trình nêu trên đã đưa ra những cách hiểu khác nhau về khái niệm triết lý nhân sinh. Đây là những tư liệu quý giá để từ đó giúp nghiên cứu sinh có thể định nghĩa về khái niệm triết lý nhân sinh cũng như tạo cơ sở để phân tích được nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu có liên quan đến truyện cổ tích Việt Nam Do đóng vai trò là một bộ phận quan trọng trong hệ thống văn học dân gian nên truyện cổ tích giành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước. Những công trình này hầu hết đều nghiên cứu về truyện cổ tích dưới góc độ văn học. Bằng cách đưa ra khái niệm, đặc trưng, nguồn gốc hình thành, phân loại truyện cổ tích và bước đầu phân tích những nội dung cơ bản của truyện cổ tích Việt Nam. Có thể kể đến các công trình: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi [12].
Công trình này gồm 5 tập được công bố lần lượt trong vòng 25 năm, từ năm 1958 đến 1982, được nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội in và tái bản năm 2000. Công trình đã nghiên cứu tỉ mỉ về khái niệm, đặc trưng, phân loại truyện cổ tích Việt Nam. Trong Phần thứ Nhất (in ở Tập I) nhan đề “Nghiên cứu truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích Việt Nam”, tác giả đã đưa ra những nghiên cứu của ông về luan an 9 bản chất của truyện cổ tích, những vấn đề về truyện cổ tích nói chung cũng như truyện cổ tích Việt Nam nói riêng. Để nhận dạng thế nào là một truyện cổ tích, Nguyễn Đổng Chi nêu lên 3 tiêu chí sau đây: 1.Phải có phong cách cổ; 2.
Phải gần gũi với bản sắc dân tộc; 3. Phải có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao. Đồng thời ông cũng đã đưa ra những quan điểm của mình về việc phân loại truyện cổ tích. Áp dụng cho cổ tích, ông đưa ra một bảng phân loại mới gồm 3 loại như sau: 1.
Cổ tích thần kỳ (trong lần in thứ nhất, 1957, ông gọi là cổ tích hoang đường; lần in thứ 5, 1972, mới đổi là cổ tích thần kỳ); 2. Cổ tích thế sự; 3. Cổ tích lịch sử.