phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về quản lý lễ hội, tổng quan lễ hội đền Trần. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý lễ hội đền Trần hiện nay. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội đền Trần.
12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI, TỔNG QUAN LỄ HỘI ĐỀN TRẦN 1. Một số khái niệm 1. Lễ hội Cho đến thời điểm hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Hữu Thức đã đƣa ra một số khái niệm cũng nhƣ biện dẫn một số quan điểm về lễ hội.
Xét về mặt ngôn ngữ, lễ hội là một từ ghép của hai từ đơn “lễ” và “hội” [48, tr. Chúng ta cần phân biệt giữa lễ hội và lễ tết. Lễ tết là hệ thống đƣợc phân bổ theo thời gian trong năm (vì Tết đƣợc biến âm từ “tiết”- có nghĩa là thời tiết). Trong năm, Tết quan trọng nhất là đầu năm (Tết Cả hay Tết nguyên đán); ngoài ra còn có hệ thống Tết Rằm (Rằm tháng Giêng - Tết Thƣợng nguyên, Rằm tháng Bảy - Tết Trung nguyên, Rằm Tháng Tám, Rằm Tháng Mƣời - Tết Hạ nguyên).
Bên cạnh đó, ngƣời Việt Nam có hệ thống Tết trùng ngày tháng (Tết mùng Ba tháng Ba - Hàn thực, Tết mùng Năm tháng Năm - Đoan ngọ). Lễ tết bao gồm hai phần: “Lễ là các nghi thức thờ cúng ông bà tổ tiên, Tết là ăn uống, vui chơi. Lễ tết thể hiện nếp sống cộng đồng, sum họp mọi thành viên trong gia đình, gia tộc. Duy trì tôn ti trật tự trong gia đình, gia tộc” [46, tr.
“Lễ hội là hệ thống phân bổ theo không gian. Lễ hội thƣờng diễn ra vào mùa xuân và mùa thu là thời điểm nông nhàn ở khắp các vùng. Mỗi nơi có lễ hội riêng của mình” [46, tr. Theo tác giả luận văn, để xác định lễ hội và hiểu về lễ hội, chúng ta phải hiểu thế nào là “lễ” và thế nào là “hội” với tinh thần để xem phần lễ gồm những nội dung gì và phần hội gồm những nội dung gì, trong một lễ hội thì phần nào chiếm chủ đạo, chiếm nội dung lớn.
Theo hiểu biết của cá nhân, lễ và hội đƣơng nhiên là từ ghép nhƣng nó phải thƣờng xuyên gắn bó 13 mật thiết với nhau vì nếu lễ hội mà chỉ có phần lễ hoặc chỉ có phần hội thì sẽ không trở thành lễ hội và ngƣợc lại. Còn lễ hội khác với lễ tết bởi lễ hội là hình thức sinh hoạt của cộng đồng làng xã, khi tổ chức lễ hội thì đảm bảo sự thống nhất giữa quản lý và tổ chức lễ hội với sự tham gia sinh hoạt tập thể, cộng đồng thƣờng là tổ chức vào mùa xuân và mùa thu. * Phần lễ “là nghi thức thờ cúng mang ý nghĩa tâm linh, các lễ vật và nghi lễ gắn liền với đối tƣợng thờ cúng. Chữ lễ bao gồm: tế lễ và lễ giáo” [46, tr.
* Phần hội “bao gồm các trò chơi, giải trí hết sức phong phú. Xét về nguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ ƣớc vọng thiêng liêng của con ngƣời nông nghiệp. Đối với các lễ hội, phần hội bao giờ cũng gắn bó, liên quan mật thiết với phần lễ” [46, tr. Lễ hội không tách biệt mà nằm lẫn, đan xen vào nhau nhƣ trong lễ hội truyền thống, lễ hội tƣởng niệm danh nhân cách mạng ở nhà lƣu niệm.
Lễ do từng cá nhân hay một nhóm ngƣời thực hiện trong thời gian tổ chức lễ hội. Nhƣng lễ và hội cũng có thể tách biệt riêng từng phần, nhƣ một số lễ hội hiện đại: xong phần nghi thức lễ thì chuyển sang phần hội [48]. Tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trƣớc và trên phƣơng diện quan sát trực quan, tác giả luận văn đồng tình với quan điểm: lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa của một nhóm ngƣời hay nhiều ngƣời, diễn ra trong một thời gian nhất định; nơi hội tụ và trình diễn tổng hợp các loại hình văn hóa, nơi hòa nhập văn hóa quá khứ và văn hóa hiện tại nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng ngƣời, đánh thức niềm tin, sự tự nguyện và cảm hứng thăng hoa, sáng tạo của mỗi ngƣời khi tham gia vào lễ hội. Lễ hội thể hiện tính tập thể nhóm ngƣời, tính cộng đồng (nhiều nhóm ngƣời), tính tổng hợp (nhiều loại hình văn hóa), tính ngẫu hứng, sáng tạo (mỗi cá thể ngƣời tham gia vào sinh hoạt cộng đồng) qua đó tạo nên mối cộng cảm và tinh thần gắn bó giữa các thành viên của cộng đồng, từ cuộc sống thƣờng 14 nhật, hƣớng tới những chuẩn mực giá trị xã hội và đức tin vào một thế giới đƣợc huyền thoại hóa từ cõi đời thực tạo nên niềm vui và sức mạnh chung của cả cộng đồng [48].
Do đó, đặc trƣng của lễ hội đƣợc biểu hiện ở nhiều tính chất khác nhau nhƣ: T nh không gian: Theo tác giả, không gian lễ hội đƣợc tổ chức ở một địa điểm cố định, tại một địa phƣơng cụ thể, đƣợc địa phƣơng, ngƣời dân và cộng đồng khu vực đó quản lý và tổ chức, nhân dân đƣợc tham gia, thụ hƣởng, gắn với phong tục, tập quán, truyền thống của quê hƣơng, thu hút khách thập phƣơng về cùng tham gia tại không gian lễ hội. Lễ hội đó gắn với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa phƣơng, nó đƣợc ra đời, phát triển từ trong nhân dân. T nh thời gian: Tác giả cho rằng, lễ hội đƣợc tổ chức và tồn tại trong một thời gian nhất định, đƣợc cụ thể bằng những nội dung quy định đặc biệt là tính thời gian đƣợc gắn liền với tính lịch sử của lễ hội. Tính thời gian trong lễ hội đƣợc gắn liền với tâm thức của nhân dân và khó có thể thay đổi, trong quá trình tổ chức lễ hội mỗi nội dung đều đƣợc tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định, đƣợc liên kết với nhau tạo ra một lễ hội đảm bảo theo nguyên tắc đã ấn định.
* Phân loại lễ hội Theo tác giả Bùi Quang Thanh [41] tới cuối năm 2011, cả nƣớc có 7.966 lễ hội (trong đó có 7.039 lễ hội dân gian, lễ hội cổ truyền), 332 lễ hội lịch sử - cách mạng, (544 lễ hội tôn giáo, 10 lễ hội du nhập từ nƣớc ngoài, còn lại là lễ hội khác), đƣợc thực hành hằng năm tại hầu khắp 63 tỉnh, thành phố, trong đó mật độ đậm đặc nhất là vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và Nam Bộ, theo các cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau. Với các di tích - lễ hội đón nhận hàng năm từ một triệu lƣợt khách hành hƣơng trở lên, có thể kể đến các lễ hội Yên Tử, chùa Hƣơng, đền Hùng, đền bà Chúa Xứ, 15 chùa bà Thiên Hậu, Chùa Bái Đính. Với các di tích - lễ hội đón hàng trăm nghìn lƣợt khách trở lên, có thể kể đến các lễ hội đền Trần, Phủ Dầy, Côn Sơn - Kiếp Bạc, hội Lim. Có thể chia lễ hội theo các hình thức sau đây: + Lễ hội dân gian Giới nghiên cứu có xu hƣớng xác định lễ hội dân gian đƣợc hiểu là những lễ hội mà chủ thể là do dân chúng tham gia tổ chức và hƣởng thụ, khai thác triệt để các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian làm nền tảng cho hoạt động hội [48].
+ Lễ hội lịch sử cách mạng Đây là lễ hội mới ra đời sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do chính quyền các cấp và nhân dân tham gia tổ chức. Nội dung lễ hội liên quan đến các nhân vật tiền bối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam và các sự kiện lịch sử trên chặng đƣờng hoạt động cách mạng từ sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tới nay[48]. + Lễ hội tôn giáo Lễ hội tôn giáo do các chức sắc, tổ chức tôn giáo đứng ra chủ trì huy động các tín đồ tham gia đáp ứng nhu cầu tinh thần và đời sống tâm linh của tín đồ. Nội dung của lễ hội tôn giáo liên quan đến sự tích về các nhân vật do tôn giáo đó thờ phụng.
Các lễ hội tôn giáo không chỉ ở việc hành lễ và diễn ra các nghi thức tôn giáo trong khuôn viên nơi thờ tự mà nhiều lễ hội đã mở rộng không gian hoạt động, chú ý đến các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ truyền thống ở cộng đồng để tăng chất hội hè, vui chơi giải trí. Các tín đồ xuất phát từ đức tin vào những “biểu tƣợng thiêng”, “cõi thiêng” của tôn giáo đã tâm đức đóng góp tiền của, công sức tạo nên sắc màu lung linh, huyền ảo của nhiều lễ hội diễn ra tại cơ sở thờ tự của tôn giáo [48]. + Lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam có quan hệ giao lƣu với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Do biến động của lịch sử, một 16 số tộc ngƣời từ quốc gia khác cũng di cƣ sinh sống ở Việt Nam mang theo cả tài sản văn hóa, trong đó có lễ hội.
Vì vậy, nhiều lễ hội của những tộc ngƣời từ quốc gia khác vào Việt Nam sinh sống lâu đời đã trở thành di sản văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Ví dụ: lễ hội Noen, Phật đản, lễ hội của ngƣời Hoa ở Hà Tiên (Kiên Giang)… [48]. + Lễ hội văn hóa - du lịch Lễ hội văn hóa - du lịch đƣợc một địa phƣơng hay một đơn vị tổ chức hay liên kết một số địa phƣơng, đơn vị tổ chức nhằm mục đích quảng bá du lịch, thu hút du khách đến với một vùng đất. Đặc điểm của loại hình lễ hội này chính quyền và đơn vị đăng cai tổ chức lễ hội bỏ kinh phí cùng với nguồn tài trợ của các thành phần kinh tế qua hình thức xã hội hóa chi mọi hoạt động diễn ra lễ hội để phục vụ vui chơi giải trí của nhân dân, thông qua đó giáo dục chính trị tƣ tƣởng, việc ngƣời dân có đến lễ hội đó hay không là quyền của mỗi ngƣời [48].