Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý lễ hội và khái quát thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Chương 2: Thực trạng quản lý lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Quản lý Lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 6 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ KHÁI QUÁT THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Quản lý và quản lý văn hóa Trong đời sống xã hội hiện nay, xã hội bao gồm rất nhiều những phương diện nhỏ, trong đó xã hội ngày càng phát triển thì con người cũng sẽ ngày càng đi lên và thay đổi, những lĩnh vực hoạt động của con người sẽ ngày càng trở nên đa dạng và phong phú hơn và để đáp ứng được nhu cầu của con người trong các lĩnh vực của xã hội thì đều phải có một cơ chế “quản lý” rõ ràng. Cho đến thời điểm hiện nay khái niệm “quản lý” vẫn khá dễ nhầm lẫn với khái niệm “lãnh đạo” và ngoài ra khái niệm về quản lý cũng có tính đã nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau rất nhiều học giả trong nước và nước ngoài đã đưa ra những khái niệm không giống nhau về quản lý: Theo Fayol: “Quản lý” là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy” Khác với quan điểm trên nhà nghiên cứu Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” Theo Perter F.Dalark cho rằng lấy quản lý là chức năng của doanh nghiệp, nếu không có quản lý thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển. Tóm lại quản lý là quan niệm không phỉ kỹ thuật, là một qua trình chứ không phải hoạt dộng, là tự do chứ không phải là bị khống chế và mọi hoạt động quản lý cần 5 yếu tố cơ bản: 7 Luan van Chủ thế quản lý: Do ai quản lý ? Khách thể quản lý: Quản lý cái gì ? Mục đích quản lý: Quản lý vì cái gì ? Môi trường quản lý và điều kiện tổ chứ quản lý: Quản lý trong hoàn cảnh nào, những yếu tố cần và đủ để quản lý lễ hội là gì ? Biện pháp quản lý: Quản lý bằng cách nào ? Khái niệm quản lý là một lĩnh vực đặc thù của quản lý nói chung, ngoài ra còn được định nghĩa như một công việc nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí, các hoạt động tổ chức cụ thể Khái niệm quản lý văn hóa thường được nhìn nhận là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua ban hành, tổ chức, thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Quản lý văn hóa bao gồm những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất chủ thể quản lý cần phải xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức.) trong đó là những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa là cơ sở của việc xác lập nội dung, và phương thức quản lý. Cùng với đó là hệ thống bộ máy tổ chức, cán bộ cần phải nắm được các chức năng của quản lí văn hóa và thực hiện chức năng quản lí văn hóa từ Trung ương đến địa phương theo các lĩnh vực Thứ hai chủ thể quản lý không chỉ sử dụng nội dung lĩnh vực, chức năng của ngành văn hóa nói chung hay ngành quản lý văn hóa nói riêng mà cần phải có cơ chế phối hợp liên ngành, một số ngành như ngành y tế, ngành giáo dục, ngành lao động.
Thứ ba công cụ quản lý bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, pháp lệnh, nghị đinh, thông tư, chỉ thị, quy chế và các hệ thống chính sách thuộc từng lĩnh vực như nếp sống, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc. 8 Luan van Cuối cùng ngoài ra công tác quản lý văn hóa còn có các phòng ban, các cơ quan đơn vị thực hiện phụ trách các công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng hay xử lý vi phạm 1.2 Lễ hội và Quản lý lễ hội Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa lâu đời, nhiều dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quán mang bản sắc riêng của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo. cho nền văn hóa dân tộc. Trong đó lễ hội là yếu tố quan trọng và vừa là đặc trưng cho mỗi dân tộc, làm cho văn hóa đất nước đặc sắc hơn.
Hiện nay, tại Việt Nam khái niệm lễ hội vẫn còn được hiểu và được lý giải theo nhiều định nghĩa, nhiều khái niệm khác nhau, khái niệm về lễ hội hoàn toàn có thể hiểu theo cách lễ và hội thành hai thành tố khác nhau trong cấu trúc lễ hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại. Cùng với sự đi lên phát triển của đất nước công cuộc đổi mới đã mang lại những thành tựu lớn đáp ứng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không chỉ dưng lại ở mức chuẩn mực mà sẽ ngày càng cải thiện và nâng cao. Từ đó, nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân ngày càng tăng; trong đó, lễ hội là một loại hình có sức hấp dẫn lớn. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp và mang tính cộng đồng, hướng về nguồn cội, đáp ứng đời sống tâm linh, không ngừng sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, là nhu cầu cần thiết cực kì quan trọng tác động đến đời sống xã hội Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách khuyến khích phục dựng những giá trị văn hóa truyền thống đang có dấu hiệu dần phai nhạt, để đáp ứng nhu cầu của xã hội, đời sống kinh tế và đời sống văn hóa ,các cơ sở được nâng cấp, các lễ hội truyền thống được phục hồi, góp phần phát huy giá trị văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc.
9 Luan van Như vậy cấu trúc của lễ hội sẽ có hai phần: Phần Lễ và phần Hội “LỄ” là hệ thống các nghi thức diễn ra trong lễ hội nhằm thể hiện sự “ứng xử” đối với Thần linh, với các Nhân thần, Nhiên thần theo những quy trình, nội dung chặt chẽ, với các lễ vật (nông sản và các lễ vật khác liên quan), hình thức cúng bái kèm theo âm nhạc, vũ điệu, trang phục dân gian với những quan niệm triết lý sâu xa. Đó chính là những “luật tục” nghiêm túc được thực hiện qua các thế hệ trong đời sống cộng đồng để bày tỏ những ước muốn của “Con người” với “Thần linh” được gặp nhiều điều “thuận buồm xuôi gió”, “xuôi chèo mát mái” trong cấy trồng, mùa vụ, trong sức khỏe và đời sống bình dị của cư dân nông nghiệp. “HỘI” là sáng tạo văn hóa của cộng đồng, thường đi liền và tái hiện sau phần “LỄ” với mục đích vui chơi, thụ hưởng thông qua văn hóa ẩm thực, trò chơi dân gian, thi tài giữa các nhóm người trong cộng đồng (nam nữ: hát đối đáp, giao duyên; thanh niên: đấu vật, chơi bóng, pháo đất; giữa các làng: nấu cơm thi, gói bánh, đi cà kheo, đua thuyền, chọi trâu…). Quanh năm lam lũ làm ăn, đây là dịp để “dân làng”, “dân bản” “dân buôn”, “dân phum, sóc”…“xả xì - trét” phục hồi sức lao động để bước vào một năm mới, một chu kỳ làm ăn mới, một chu kỳ sức khỏe mới mọi sự “hanh thông” nhiều phúc, lộc, tài “bằng năm, bằng mười năm trước”.
Lễ hội là sản phẩm của xã hội được đúc kết qua thời gian, những giá trị văn hóa lịch sử trong quá khứ, được gìn giữ và phát huy tới ngày nay và được người dân, cộng đồng tham gia trong đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng. Khái niệm quản lý lễ hội Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật truyền thống, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng thành viên, niềm hạnh phúc cho từng gia đình. Lễ hội ra đời, tồn tại gắn với quá trình phát triển của các dân tộc nói chung và làng xã, thôn bản của người Việt và các dân tộc thiểu số, nó phản ánh nhiều giá trị trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa, lịch sử của 10 Luan van cộng đồng. Một trong những giá trị tiêu biểu của lễ hội là giá trị văn hoá và liên kết cộng đồng qua tôn giáo, tín ngưỡng; là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho lễ hội có sức sống lâu bền, tồn tại với lịch sử và văn hóa dân tộc cho đến hôm nay.
Quản lý lễ hội là một trong những nội dung quản lý nhà nước về văn hóa có tính đặc thù riêng với nhóm lễ hội (Dân gian, Lịch sử, Tôn giáo hoặc Du nhập từ nước ngoài vào nước ta). Lễ hội trong đời sống tộc người, quốc gia thường luôn gắn với các di sản văn hóa và hiện tượng văn hóa tâm linh; gắn bó và phản ánh ước nguyện của con người, cộng đồng người quy mô khác nhau về một cuộc sống bình an, ấm no, hạnh phúc; ước nguyện mọi điều tốt đẹp đến với con người. Trong lễ hội dù ở loại hình gì đi chăng nữa đều phản ánh những phương thức sinh hoạt với các phần cơ bản là phần Lễ và phần Hội với nhiều giá trị, sinh hoạt văn hóa vật thể và phi vật thể đan cài đậm cá tính tộc người, vùng miền, địa phương. Đó cũng là đối tượng quản lý của ngành văn hóa nhằm làm sao để các chủ thể văn hóa - người dân, được thụ hưởng và phát huy khả năng sáng tạo trong bảo tồn, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa tộc người và quốc gia.