MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khu vực Nam Trung bộ gồm 8 tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, nằm trên các trục giao thông từ đƣờng bộ đến đƣờng sắt, hàng hải và hàng không nối liền Bắc Nam và các tỉnh trong khu vực; là cửa ngõ của Tây nguyên, của đƣờng xuyên Á ra biển nối với đƣờng hàng hải quốc tế, làm đầu mối trung chuyển và trung tâm giao thƣơng của vùng Mê Kông lớn và khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng. Vùng có đƣờng bờ biển có chiều dài khoảng 1.000 km, với nhiều cảng biển lớn, nhiều bãi biển đẹp và với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, có giá trị kinh tế cao nhƣ titan, liti, thiếc, vàng sa khoáng, sắt, nhôm, đá granite, vật liệu xây dựng; vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế có các mỏ dầu, khí, băng cháy và nhiều hải sản quý hiếm. Ngoài ra, ngƣ dân trong vùng có truyền thống, kinh nghiệm quý trong bám biển, đánh bắt hải sản; góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế biển gắn với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Đây là những đặc điểm thuận lợi của vùng để phát triển các ngành kinh tế quan trọng gắn với biển nhƣ kinh tế hàng hải, hải sản, khai thác và chế biến dầu khí, du lịch biển đảo, nghề làm muối, kinh tế đảo, và dịch vụ tìm kiếm cứu hộ cứu nạn. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã có nhiều chủ trƣơng và chính sách phát triển nhằm phát huy những thế mạnh của vùng nhƣ nỗ lực trong việc cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, xây dựng nền hành chính ngày càng thông thoáng, minh bạch, bình đẳng, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tƣ, đƣợc cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu hút đầu tƣ, phát triển kinh tế, nhất là các ngành kinh tế biển, du lịch và dịch vụ. Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển hiện nay tại khu vực Nam Trung Bộ cũng đang đối mặt với một số thách thức, khó khăn. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhƣng chủ yếu là do nguồn vốn đầu tƣ để phát triển kinh tế biển còn hạn chế và thiếu tính hiệu quả.
Trong thời gian qua, thông qua các cơ chế, chính sách khu vực Nam Trung Bộ đã huy động đƣợc một lƣợng vốn tƣơng đối lớn cho luan an 2 đầu tƣ phát triển kinh tế biển của khu vực thể hiện qua số lƣợng vốn đầu tƣ tăng nhanh, các kênh huy động vốn từng bƣớc đƣợc đa dạng hóa, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tƣ. Song, vốn đầu tƣ phát triển kinh tế biển nhìn chung vẫn còn bất cập so với yêu cầu đầu tƣ, chƣa tƣơng xứng với những tiềm năng về phát triển kinh tế biển của vùng, đặc biệt là còn thiếu các giải pháp chính sách huy động vốn đầu tƣ phát triển các ngành nghề, lĩnh vực đặc thù. Do đó, còn không ít khó khăn, vƣớng mắc cần phải khắc phục và tháo gỡ. Để thực hiện đƣợc đề án phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 đƣợc đề ra trong Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XII, đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ của 28 tỉnh thành có biển, trong đó có khu vực Nam Trung Bộ.
Điều đó đòi hỏi, mỗi địa phƣơng phải phát triển đầy đủ cơ sở hạ tầng nhƣ đƣờng giao thông, hệ thống cảng biển, sân bay, nhà hàng, khách sạn hiện đại và một đội ngũ nguồn nhân lực chất lƣợng cao đảm bảo cho nhu cầu phát triển. Sự phát triển đó, đặt ra yêu cầu cao từ nhiều nhân tố, trong đó vốn đầu tƣ là một nhân tố không thể thiếu. Vì vậy, Nam Trung Bộ cần phải có một giải pháp hoàn chỉnh ngay từ ban đầu bằng biện pháp huy động vốn một cách thiết thực từ nhiều nguồn khác nhau, cả vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn trong và ngoài nƣớc, khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân và các doanh nghiệp từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Song song với đó là những biện pháp sử dụng vốn đầu tƣ hiệu quả, có nhƣ vậy mới tạo ra đƣợc một tầm nhìn trong dài hạn giải quyết vấn đề về vốn đầu tƣ đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế biển.
Để tiếp tục tăng cƣờng vốn đầu tƣ đảm bảo điều kiện cho kinh tế biển khu vực Nam Trung Bộ phát triển theo đúng mục tiêu, định hƣớng đề ra thì việc tìm ra các giải pháp để tháo gỡ vƣớng mắc từ thực tiễn, tạo điều kiện cho kinh tế biển của vùng phát triển đƣợc coi là vấn đề có ý nghĩa hiện nay. Do đó, tác giả chọn đề tài “Vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế biển khu vực Nam Trung bộ” làm đề tài nghiên cứu sinh của mình, với mục tiêu giải quyết thỏa đáng các vấn đề về vốn đầu luan an 3 tƣ tạo điều kiện cho kinh tế biển khu vực Nam Trung bộ phát triển đúng tiềm năng. Tổng quan nghiên cứu Việt Nam là quốc gia có đƣờng bờ biển dài, với mục tiêu trở thành quốc gia biển trong tƣơng lai cho nên phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho phát triển kinh tế đất nƣớc. Phát triển các lĩnh vực kinh tế biển đòi hỏi khả năng phối hợp liên ngành, vốn đầu tƣ lớn và cách thức tổ chức chặt chẽ nhƣng đây lại là điểm yếu cơ bản bộc lộ trong quá trình triển khai thời gian vừa qua.
Trong những năm qua, giải pháp về vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế biển liên quan đến các ngành nghề hải sản, du lịch biển, vận tải biển.đã bắt đầu đƣợc nghiên cứu nhƣng số lƣợng các công trình không nhiều. Về lý thuyết, vốn đầu tƣ nói chung rất nhiều nhƣng vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế biển thì rất ít, chủ yếu đƣợc đề cập dƣới dạng công trình nghiên cứu ở các viện nghiên cứu nhƣ Viện khoa học xã hội. Về mặt thực tiễn, ở Việt Nam và đặc biệt là khu vực Nam Trung Bộ cho đến nay chƣa có nhiều nghiên cứu về vốn đầu tƣ nhằm phát triển kinh tế biển, các đề tài khoa học cũng rất ít, mà chủ yếu là các bài báo đăng trên các ấn phẩm báo, tạp chí hay các bài viết hội thảo. Nghiên cứu trong nƣớc 2.
Các nghiên cứu về vốn đầu tƣ Nghiên cứu về vốn đầu tư, huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Việt Nam, khu vực, hay một địa phương: Một là, đề tài khoa học cấp bộ, cấp Nhà nƣớc và Đề án quốc gia: Võ Duy Khƣơng (2004), đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một số giải pháp huy động vốn đầu tƣ trong nƣớc nhằm phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2010”, đề tài nghiên cứu tình hình huy động vốn đầu tƣ trong nƣớc cho Đà Nẵng qua các kênh: NSNN, tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp giai đoạn 1996 – 2003; đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tƣ trong nƣớc để phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng; tìm ra những tồn tại và nguyên nhân trong việc huy động vốn đầu tƣ trong nƣớc. Từ đó, đề xuất giải pháp để huy động vốn nhằm phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là luan an 4 huy động vốn đầu tƣ trong nƣớc cho phát triển KT - XH thành phố Đà Nẵng mà chƣa đi sâu vào vấn đề vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế biển trên địa bàn. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia (2018), “Cơ chế và chính sách tạo lập nguồn vốn phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, kỷ yếu gồm có hai phần.
Phần 1 – Cơ chế, chính sách và nguồn lực tạo lập nguồn vốn phát triển kinh tế vùng trọng điểm phía Nam và liên vùng với các nội dung chủ yếu liên quan nhƣ kinh nghiệm quốc tế về nguồn lực tạo lập nguồn vốn phát triển kinh tế vùng, các yếu tố về nguồn lực trong tăng trƣởng kinh tế vùng, dự báo về trữ lƣợng vốn của vùng, vai trò của liên kết các nguồn lực, liên kết ngành kinh tế,…Phần 2 – Thu hút nguồn vốn đầu tƣ từ các tỉnh, thành phố vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – thực trạng và giải pháp với các nội dung chủ yếu liên quan về kinh nghiệm, thực tế thu hút nguồn vốn đầu tƣ liên quan đến 8 tỉnh, thành phố bao gồm TP. HCM, Bình Phƣớc, Tây Ninh, Bình Dƣơng, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang. Kỷ yếu đã đúc kết đƣợc những thành tựu, khó khăn, hạn chế của từng tỉnh, thành phố và đề xuất các giải pháp cũng nhƣ nhu cầu tạo giá trị gia tăng từ nguồn lực liên kết vùng. Hai là, luận án tiến sĩ kinh tế Đặng Thị Hà (2013), “Huy động vốn đầu tƣ ngoài ngân sách Nhà nƣớc để thực hiện các dự án xây dựng đƣờng cao tốc ở Việt Nam”, luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến huy động vốn đầu tƣ ngoài NSNN để thực hiện các dự án xây dựng đƣờng cao tốc ở Việt Nam.
Qua phân tích các bài học kinh nghiệm của các nƣớc, luận án đƣa ra các điều kiện để áp dụng thành công ở Việt Nam không chỉ đối với các doanh nghiệp tham gia dự án mà cả đối với Nhà nƣớc. Luận án nghiên cứu đánh giá thực trạng và kết quả huy động vốn ngoài ngân sách vào thực hiện các dự án xây dựng đƣờng cao tốc ở Việt Nam thời gian vừa qua. Đồng thời, luận án chỉ ra những nguyên nhân khiến việc huy động vốn ngoài ngân sách để thực hiện các dự án xây dựng và phát triển hệ thống giao thông đƣờng cao tốc ở Việt Nam chƣa đạt kết quả nhƣ mong muốn. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng huy động vốn ngoài NSNN để xây dựng các dự án đƣờng cao tốc ở Việt nam trong thời gian tới.
Tuy nhiên, luận án mới chỉ dựng lại ở đánh giá việc luan an 5 huy động vốn ngoài NSNN cho xây dựng đƣờng cao tốc ở Việt Nam mà chƣa đề cập đến vốn đầu tƣ cho phát triển KT - XH nói chung và kinh tế biển nói riêng.