phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung khóa luận chia làm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội và tổng quan về lễ hội Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý lễ hội Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Chƣơng 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 6 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI, TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TÂY THIÊN 1.
Những vấn đề lý luận chung về quản lý lễ hội truyền thống 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm lễ hội, lễ hội truyền thống *Khái niệm lễ hội Cho đến nay có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về lễ hội: Theo điều 4, Luật Di sản văn hóa thì lễ hội được xem là di sản văn hóa phi vật thể. Tác giả Đoàn Văn Chúc lý giải lễ hội như sau: Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội, hay tự nhiên, tưởng tượng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điểm rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, tùy thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ.
Hội là cuộc vui bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện tự nhiên xã hội nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ [4]. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là tấm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc” [11]. Từ góc độ cấu trúc loại hình, cuốn Giáo trình Quản lý lễ hội và Sự kiện do PGS.Cao Đức Hải Chủ biên (2010) có đưa ra định nghĩa lễ hội như sau: “Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định”.
Đây là một cách nhìn có tính hình thức về hiện tượng và có thể bao trùm mọi hiện tượng được dân gian gọi là hội hè.[5] Như vậy về cơ bản, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều cách diễn 7 Luan van đạt khác nhau về lễ hội nhưng tất cả đều khẳng định lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng, bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ là hệ thống những hành vi, nghi thức, tác động nhằm biểu hiện sự tôn kính với thần linh, phản ánh ước mơ chính đáng của một cộng đồng. Phần hội là hoạt động tập thể liên quan đến tín ngưỡng chung của cộng đồng. Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
* Khái niệm lễ hội truyền thống Truyền thống là khái niệm để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao quyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những lễ hội được hình thành từ lâu, được tổ chức qua nhiều năm từ thế hệ này sang thế hệ khác thì được gọi là lễ hội truyền thống. Lễ hội truyền thống được các thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước tái tạo và khẳng định để bảo tồn, phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội. Lễ hội truyền thống còn là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến, nổi bật của con người được diễn ra dưới nhiều hình thức hoạt động nhằm phục vụ lợi ích của con người, thỏa mãn nhu cầu về văn hóa, tinh thần của một nhóm người hay của một cộng đồng dân cư nhất định với nhiều mục đích khác nhau.
Tóm lại, lễ hội truyền thống được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau và góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, có từ lâu đời, tồn tại cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại, được hình thành trong hình thái văn hóa lịch sử riêng biệt, được truyền lại trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán. Khái niệm quản lý, quản lý lễ hội *Khái niệm quản lý Thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Theo nghĩa hẹp, quản lý là 8 Luan van sự sắp đặt, trông nom công việc. Theo nghĩa thông thường, phổ biến nhất: Quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra. Thuật ngữ quản lý ở nước ta theo nghĩa Hán Việt cũng thường được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của con người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới. * Khái niệm quản lý lễ hội Quản lý lễ hội là quản lý nhà nước đối với hoạt động của lễ hội nhằm hoàn thiện một hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo cho hoạt động của lễ hội được diễn ra theo đúng đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nâng cao giá trị về đời sống tinh thần của cộng đồng.
Theo tác giả Bùi Hoài Sơn: Quản lý di sản nói chung, lễ hội nói riêng là công việc của Nhà nước được được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. [10] Tóm lại, ta có thể hiểu quản lý lễ hội là việc sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bộ máy và các nguồn lực khác, để kiểm soát hay can thiệp vào các hoạt động lễ hội. Sử dụng các phương thức thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách và luật. Việc quản lý lễ hội là việc rất quan trọng và cần thiết trong bất kỳ lễ hội nào, bởi vì khi có sự quản lý thì các hoạt động mới có thể diễn ra đúng kế hoạch, quy trình, đảm bảo an ninh, an toàn cho lễ hội đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị mà lễ hội mang lại giúp lễ hội ngày càng phát triển hơn.
9 Luan van *Quản lý của cộng đồng về lễ hội truyền thống Một trong những hình thức quản lý lễ hội đạt kết quả cao bên cạnh quản lý của nhà nước là quản lý lễ hội dựa vào cộng đồng, hay nói cách khác đó là quản lý của cộng đồng về lễ hội truyền thống. Đây là một cơ chế quan trọng cho sự tham gia của cộng đồng vào giải quyết các vấn đề của lễ hội, tăng tính công khai, đồng thời người dân tự ý thức được bảo vệ những lễ hội truyền thống là cần thiết cho đời sống của họ, dẫn đến hành động thực tiễn giúp công tác quản lý lễ hội đạt hiệu quả cao. Nội dung của quản lý lễ hội truyền thống 1.Chủ thể quản lý - Chủ thể quản lý thuộc các cơ quan quản lý Nhà nước về lễ hội: Chủ thể quản lý Nhà nước đối với hoạt động lễ hội bao gồm các cơ quan Nhà nước thuộc hệ thống hành pháp gồm: Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, ngoài ra còn có các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường… Phân cấp quản lý về lễ hội truyền thống được thể hiện theo bảng sau: Cấp hành chính Cơ quan trực tiếp Cơ quan trực tiếp thực quản lý hiện Trung ương Chính phủ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cấp Tỉnh UBND tỉnh (Phó chủ Sở Văn hóa, Thể thao tịch phụ trách Văn – Xã) Cấp Huyện UBND huyện (Phó chủ Phòng Văn hóa – Thông tịch phụ trách Văn – Xã) tin Cấp Xã UBND xã (Phó chủ tịch Cán bộ công chức văn phụ trách Văn hóa) hóa xã 10 Luan van Đối tượng của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội bao gồm: Các hoạt động lễ hội, mọi công dân tham gia hoạt động lễ hội và những phương tiện, cơ sở vật chất, tinh thần phục vụ cho hoạt động lễ hội truyền thống. Cơ quan tham mưu cho Chính phủ quản lý hành chính nhà nước về văn hóa thông tin bao gồm: Bộ Văn hóa thể thao và du lịch; các bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về Di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ.
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về văn hóa. Bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về lễ hội ở địa phương: Sở Văn hóa, thể thao là cơ quan tham mưu về quản lý hành chính nhà nước về lễ hội trên địa bàn. Sở Văn hóa, thể thao là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, thường có các phòng ban trực tiếp quản lý về lễ hội: Phòng quản lý nghiệp vụ (có các bộ phận: Quản lý thông tin – báo chí; Quản lý và tổ chức lễ hội, Thanh tra Sở). Bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về lễ hội ở cấp huyện: Phòng Văn hóa –Thông tin là cơ quan tham mưu cho UBND huyện, thành thị về quản lý hành chính nhà nước về Văn hóa – Thông tin – Thể thao trên địa bàn.
Hiện nay cơ cấu tổ chức của Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện trên phạm vi cả nước có 1 trưởng phòng phụ trách quản lý chung các hoạt động của phòng, 1-2 Phó phòng phụ trách chuyên môn và có từ 2 nhân viên trở lên phụ trách hoạt động từng lĩnh vực riêng.