Tổng quan nghiên cứu

Huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú với hơn 200 di tích và danh lam thắng cảnh, trong đó có 195 di tích lịch sử văn hóa phân bố trên diện tích tự nhiên 54.571,67 ha cùng quy mô dân số 274.000 người. Mặc dù sở hữu mật độ di sản dày đặc, tính đến tháng 12 năm 2011, toàn huyện mới có 34 di tích được xếp hạng chính thức, chiếm tỷ lệ 17,4% tổng số di tích trên địa bàn. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ mâu thuẫn giữa số lượng di tích đồ sộ và nguồn lực quản lý hạn chế, dẫn đến tình trạng nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật hàng trăm năm tuổi bị xuống cấp, không gian di tích bị xâm lấn trong quá trình đô thị hóa nông thôn.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng bộ máy, cơ chế và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Yên Thành giai đoạn 2001 - 2011, làm rõ những thành tựu cùng các rào cản nội tại. Từ đó, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao năng lực quản trị di sản, gắn bảo tồn với phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho giai đoạn sau năm 2012 và định hướng đến năm 2030.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 39 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện Yên Thành; phạm vi thời gian tập trung khảo sát dữ liệu thực tế từ năm 2001 đến năm 2011. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp các luận cứ khoa học và bộ chỉ số thực chứng để chuẩn hóa 100% hồ sơ khoanh vùng bảo vệ di tích, tối ưu hóa hiệu quả phân bổ ngân sách công và huy động tối đa các nguồn lực xã hội hóa cho công tác bảo tồn di sản địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về văn hóa kết hợp với nguyên lý quản trị hành chính công của Henri Fayol gồm 5 chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Cách tiếp cận này được bổ trợ bởi lý thuyết bảo tồn di sản bền vững, nhấn mạnh sự cân bằng giữa bảo vệ tính nguyên vẹn của di tích và khai thác giá trị phục vụ phát triển kinh tế cộng đồng.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Quản lý: Hoạt động tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã định.
  • Di tích lịch sử - văn hóa: Không gian vật chất cụ thể, khách quan chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, văn hóa, khoa học do con người sáng tạo và lưu truyền qua các thời kỳ.
  • Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa: Hoạt động thể chế hóa đường lối, thực thi các quy phạm pháp luật, quy hoạch, thanh tra và bảo vệ di sản theo quy định tại Điều 54 Luật Di sản văn hóa.
  • Xã hội hóa hoạt động bảo tồn: Sự tham gia của các tổ chức xã hội, dòng họ và cộng đồng dân cư trong việc đóng góp tài chính, nhân lực và trí lực vào công tác trùng tu, tôn tạo di tích.

Cơ sở pháp lý được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ: Sắc lệnh số 65/SL năm 1945, Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN năm 1984, Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP và Quyết định số 320-QĐ/UB ngày 29/01/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết ngành văn hóa giai đoạn 2001 - 2011 của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Yên Thành, hồ sơ khoa học di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và người dân tại địa phương trong giai đoạn 2010 - 2012.

Về quy mô mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát trên toàn bộ 34 di tích đã xếp hạng và khảo sát phân loại sơ bộ 195 di tích trên địa bàn 39 xã, thị trấn. Mẫu nghiên cứu chuyên sâu gồm 5 di tích trọng điểm đại diện cho các nhóm loại hình: Khu lưu niệm Bác Hồ về thăm xã Vĩnh Thành, Nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu, Đình Sừng, Đình Liên Trì và Chùa Gám. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu phân tầng theo cấp độ xếp hạng (cấp quốc gia, cấp tỉnh) và loại hình di tích (lịch sử, kiến trúc nghệ thuật).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Lịch sử học và Xã hội học là nhằm đối chiếu toàn diện giữa quy định pháp lý trên văn bản và thực tiễn vận hành tại cơ sở, đảm bảo tính khách quan và tính ứng dụng cao cho các đề xuất giải pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu loại hình di tích tại Yên Thành có sự chênh lệch rõ nét. Trong 34 di tích đã được xếp hạng tính đến cuối năm 2011, loại hình di tích lịch sử chiếm ưu thế tuyệt đối với 29 di tích (đạt tỷ lệ 85,3%), bao gồm 20 di tích lưu niệm danh nhân và 9 di tích lưu niệm sự kiện cách mạng. Loại hình di tích kiến trúc - nghệ thuật chỉ có 5 di tích (chiếm 14,7%). Toàn huyện còn có 81 nhà thờ họ, trong đó 13 nhà thờ họ đã được xếp hạng cấp tỉnh, cùng gần 13 vạn đồng bào theo đạo Công giáo sinh hoạt tại 12 giáo xứ với các công trình kiến trúc đặc sắc như Nhà thờ đá Bảo Nham.

Thứ hai, mật độ phân bố di tích xếp hạng không đồng đều giữa các vùng địa lý. Toàn bộ 34 di tích xếp hạng chỉ tập trung tại 19/39 xã, thị trấn (chiếm 48,7% số đơn vị hành chính). Trong đó, xã Hoa Thành có mật độ cao nhất với 4 di tích (chiếm 11,8%), tiếp theo là các xã Phúc Thành, Thọ Thành, Mỹ Thành, Vĩnh Thành mỗi xã có 3 di tích. Ngược lại, có tới 20 xã (chiếm 51,3%) chưa có di tích nào được công nhận, dù nhiều công trình cổ tại đây đáp ứng đầy đủ tiêu chí xếp hạng.

Thứ ba, sự phân hóa lớn trong đầu tư kinh phí tôn tạo và bảo tồn. Nhiều di tích cách mạng nhận được sự đầu tư lớn từ ngân sách nhà nước, tiêu biểu là Khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Vĩnh Thành được phê duyệt dự án tôn tạo với quy mô 10 hạng mục, tổng kinh phí 9,5 tỷ đồng và khánh thành vào tháng 11 năm 2011. Trong khi đó, hàng chục di tích kiến trúc gỗ có niên đại từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX như Đình Sừng (xây dựng năm 1583) hay Chùa Gám lại đối mặt với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng do thiếu kinh phí duy tu định kỳ.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh mối tương quan chặt chẽ giữa bề dày truyền thống khoa bảng - cách mạng của vùng đất Yên Thành và cơ cấu di sản hiện hữu. Yên Thành tự hào có 22 vị đỗ Đại khoa, trong đó có 4 Trạng nguyên (chiếm 66,7% tổng số Trạng nguyên của tỉnh Nghệ An) như Bạch Liêu, Hồ Tông Thốc, cùng các danh sĩ Phan Thúc Trực, Trần Đình Phong. Đây chính là nền tảng hình thành nên số lượng lớn di tích lưu niệm danh nhân.

Để minh họa trực quan các kết quả khảo sát, dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp thành bảng cơ cấu phân loại di tích theo cấp quản lý (17 di tích cấp quốc gia chiếm 50% và 17 di tích cấp tỉnh chiếm 50%) và biểu đồ cột so sánh mức độ phân bổ di tích giữa các cụm xã.

Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản lý xuất phát từ ba yếu tố: bộ máy chuyên trách tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện còn mỏng; cán bộ văn hóa xã chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm; cơ chế phối hợp liên ngành trong việc kiểm tra, xử lý vi phạm trật tự xây dựng di tích chưa thực sự kiên quyết. So sánh với các địa phương lân cận trong tỉnh Nghệ An như Diễn Châu hay Nam Đàn, Yên Thành có tốc độ tăng trưởng ngành thương mại - dịch vụ bình quân đạt 25%/năm giai đoạn 2001 - 2011 nhưng chưa chuyển hóa được tiềm năng di sản thành chuỗi giá trị du lịch văn hóa hấp dẫn du khách thập phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên thực trạng nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Yên Thành:

  • Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chuyên môn cán bộ:

    • Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Yên Thành, Phòng Nội vụ phối hợp Phòng Văn hóa và Thông tin.
    • Hành động: Thành lập Ban Quản lý Di tích và Danh thắng cấp huyện; chuẩn hóa 100% chức danh cán bộ phụ trách văn hóa cấp xã. Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng định kỳ về nghiệp vụ bảo tồn và luật di sản.
    • Chỉ số mục tiêu: Đạt 100% cán bộ cơ sở được tập huấn chuyên sâu về quản lý di tích trước năm 2015.
  • Tăng cường nguồn lực tài chính và đẩy mạnh xã hội hóa bảo tồn:

    • Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các cấp, Ban quản lý di tích cơ sở, các hội đồng dòng họ và tổ chức xã hội.
    • Hành động: Tối ưu hóa nguồn vốn ngân sách nhà nước theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm"; thiết lập quỹ bảo tồn di sản văn hóa cấp huyện; minh bạch hóa các khoản thu từ công đức, tài trợ.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ trọng nguồn vốn huy động xã hội hóa đạt từ 40% đến 50% tổng kinh phí tu bổ di tích hằng năm trong giai đoạn 2013 - 2020.
  • Phát huy giá trị di tích gắn liền với chiến lược phát triển du lịch bền vững:

    • Chủ thể thực hiện: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Yên Thành, các doanh nghiệp lữ hành và chính quyền các xã trọng điểm.
    • Hành động: Xây dựng 2 tuyến du lịch trọng điểm: Tuyến du lịch văn hóa - tâm linh - sinh thái (Chùa Gám - Rú Gám - Hồ Vệ Vừng - Đền Đức Hoàng) và Tuyến du lịch lịch sử - cách mạng (Khu lưu niệm Phan Đăng Lưu - Đình Liên Trì - Khu lưu niệm Bác Hồ tại Vĩnh Thành).
    • Chỉ số mục tiêu: Tăng trưởng lượng khách du lịch đạt 15% đến 20%/năm giai đoạn 2015 - 2020.
  • Nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra và hoàn thiện công tác khoanh vùng bảo vệ:

    • Chủ thể thực hiện: Đoàn kiểm tra liên ngành huyện (Văn hóa, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng).
    • Hành động: Tiến hành cắm mốc ranh giới bảo vệ, hoàn tất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các di tích; xử lý nghiêm minh các vi phạm lấn chiếm đất đai di tích.
    • Chỉ số mục tiêu: Hoàn thành cắm mốc và cấp quyền sử dụng đất cho 100% di tích đã xếp hạng trước năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện và tỉnh:

    • Lợi ích: Tiếp cận cơ sở dữ liệu thực chứng và khung phân tích toàn diện về quản lý di sản tại địa phương.
    • Tình huống sử dụng: Ứng dụng trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn di tích, hoạch định chính sách phân bổ ngân sách tu bổ và ban hành quy chế phối hợp quản lý di tích cấp huyện.
  • Cán bộ quản lý văn hóa - xã hội tại các xã, thị trấn:

    • Lợi ích: Nắm vững quy trình nghiệp vụ hành chính và các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ di sản.
    • Tình huống sử dụng: Áp dụng trực tiếp vào việc thành lập tiểu ban quản lý di tích, lập hồ sơ xếp hạng di tích và tổ chức các lễ hội truyền thống đúng quy chuẩn.
  • Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học:

    • Lợi ích: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực với phương pháp nghiên cứu liên ngành rõ ràng.
    • Tình huống sử dụng: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tình huống điển hình về quản lý di sản ở vùng nông thôn Bắc Trung Bộ.
  • Doanh nghiệp lữ hành và các nhà đầu tư dịch vụ du lịch:

    • Lợi ích: Khai thác bức tranh tổng quan về tiềm năng văn hóa, lịch sử và cảnh quan sinh thái của huyện Yên Thành.
    • Tình huống sử dụng: Thiết kế các tour du lịch trải nghiệm, du lịch văn hóa tâm linh kết hợp danh lam thắng cảnh tại Nghệ An.

Câu hỏi thường gặp

Huyện Yên Thành có bao nhiêu di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng tính đến thời điểm nghiên cứu? Tính đến tháng 12 năm 2011, huyện Yên Thành có 34 di tích được công nhận xếp hạng trên tổng số 195 di tích lịch sử văn hóa. Trong đó, có 17 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 17 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, phân bố tại 19 trên tổng số 39 xã, thị trấn của toàn huyện.

Tại sao số lượng di tích lưu niệm danh nhân tại Yên Thành lại chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống di sản? Yên Thành là vùng đất có truyền thống hiếu học lâu đời, sản sinh 22 vị đỗ Đại khoa trong lịch sử khoa bảng với 4 vị Trạng nguyên như Bạch Liêu, Hồ Tông Thốc. Để tôn vinh các bậc hiền tài có công với dân với nước, nhân dân địa phương đã lập nhiều đền thờ, nhà thờ họ, tạo nên 20 di tích lưu niệm danh nhân được xếp hạng.

Nguồn kinh phí xã hội hóa đóng vai trò như thế nào trong công tác bảo tồn di tích tại địa phương? Nguồn lực xã hội hóa là giải pháp then chốt giúp bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước. Tại Yên Thành, nhiều dòng họ và cộng đồng dân cư đã tự nguyện đóng góp hàng trăm triệu đồng để tu sửa các nhà thờ họ, đền làng, góp phần bảo vệ kiến trúc cổ trước sự xuống cấp của thời gian.

Vấn đề khó khăn lớn nhất trong công tác quản lý đất đai di tích tại Yên Thành là gì? Khó khăn lớn nhất là tình trạng lấn chiếm đất đai và xâm hại không gian bảo vệ di tích do lịch sử để lại. Nhiều di tích chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc chưa cắm mốc khoanh vùng bảo vệ khu vực I và khu vực II theo đúng quy định của Luật Di sản văn hóa.

Mô hình phát triển du lịch nào phù hợp nhất với hệ thống di tích tại huyện Yên Thành? Mô hình du lịch văn hóa - lịch sử kết hợp sinh thái tâm linh là hướng đi tối ưu. Việc liên kết các cụm di tích tiêu biểu như Chùa Gám, Đền Đức Hoàng, Khu lưu niệm Bác Hồ tại Vĩnh Thành với các danh thắng tự nhiên như Rú Gám, Hồ Vệ Vừng sẽ tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù, thu hút du khách.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện 195 di tích và phân tích chuyên sâu 34 di tích đã xếp hạng trên địa bàn 39 xã, thị trấn huyện Yên Thành giai đoạn 2001 - 2011.
  • Làm rõ cơ cấu di sản với 85,3% là di tích lịch sử và chỉ ra tình trạng mất cân đối trong phân bổ nguồn lực bảo tồn giữa các loại hình di tích.
  • Đánh giá vai trò quản lý nhà nước của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Yên Thành, xác định những điểm nghẽn về bộ máy kiêm nhiệm và cơ chế phối hợp liên ngành.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn bảo tồn di tích với xã hội hóa và định hướng phát triển du lịch văn hóa sinh thái đến năm 2020.
  • Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quản lý di sản văn hóa cho các huyện thuần nông vùng Bắc Trung Bộ.

Đóng góp chính của luận văn là xây dựng bức tranh thực trạng quản lý di tích tại huyện Yên Thành một cách khoa học, có hệ thống dữ liệu xác thực, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý và nhà nghiên cứu văn hóa.

Để hiện thực hóa các đề xuất, các cơ quan chức năng cần triển khai ngay việc kiện toàn Ban quản lý di tích cấp huyện trong giai đoạn 2013 - 2015, hoàn tất cấp quyền sử dụng đất cho 100% di tích trước năm 2016 và đẩy mạnh liên kết du lịch vùng giai đoạn 2015 - 2020.

Các cấp quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng địa phương hãy cùng chung tay bảo tồn, tôn vinh và phát huy hiệu quả giá trị di sản văn hóa Yên Thành, biến tiềm năng lịch sử thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho quê hương.