Tổng quan nghiên cứu

Huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là vùng đất cổ giàu truyền thống với diện tích tự nhiên 141,8 km2, quy mô dân số 19,6 vạn người trải rộng trên 26 xã và 3 thị trấn. Địa phương hiện đang lưu giữ hệ thống di sản đồ sộ với 233 di tích lịch sử văn hóa, bao gồm 18 di tích xếp hạng cấp Quốc gia và 51 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Tuy nhiên, trước sức ép của quá trình đô thị hóa và điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, công tác quản lý di tích đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng khi có tới 69 di tích lịch sử văn hóa có dấu hiệu xuống cấp. Nguồn kinh phí tu bổ còn hạn hẹp, bộ máy quản lý cấp cơ sở kiêm nhiệm nhiều đầu việc và việc phân cấp trách nhiệm còn phát sinh nhiều điểm nghẽn thực tế.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là khảo sát toàn diện, phân tích thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Tường từ khi Luật Di sản văn hóa năm 2001 có hiệu lực đến tháng 5 năm 2015. Trên cơ sở làm rõ những thành tựu đạt được và nhận diện các hạn chế về cơ chế, nguồn lực nhân sự, công tác xã hội hóa và hoạt động thanh kiểm tra, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng cao nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian hành chính toàn huyện Vĩnh Tường với 29 xã, thị trấn trong mốc thời gian từ năm 2001 đến năm 2015. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc chuẩn hóa hệ thống dữ liệu kiểm kê cho 233 di tích, xây dựng khung tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý ba cấp và cung cấp căn cứ thực chứng để cơ quan quản lý văn hóa hoàn thiện chính sách đãi ngộ, bảo tồn bền vững di sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về văn hóa kết hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn di sản dân tộc. Quản lý di tích lịch sử văn hóa được tiếp cận dưới góc độ là quá trình chủ thể quản lý sử dụng quyền lực nhà nước, hệ thống văn bản pháp quy và các công cụ hành chính nhằm tác động có định hướng đến việc bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di sản phục vụ cộng đồng.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết bảo tồn thích ứng và xã hội hóa văn hóa, đặt trọng tâm vào việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản nguyên gốc với phát triển kinh tế du lịch địa phương. Mô hình nghiên cứu vận hành theo cơ chế phân cấp quản lý ba tầng: cấp tỉnh định hướng chuyên môn và quản lý di tích quốc gia, cấp huyện tham mưu điều hành tổng thể qua Phòng Văn hóa và Thông tin, cấp xã và ban quản lý thôn trực tiếp trông coi, bảo vệ.

Khung lý thuyết làm rõ bốn khái niệm nòng cốt:

  • Di sản văn hóa vật thể: Sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học theo quy định tại Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009.
  • Di tích lịch sử văn hóa: Công trình xây dựng, địa điểm, di vật, cổ vật mang dấu ấn thời đại và phản ánh tiến trình dựng nước, giữ nước.
  • Quản lý di tích: Hoạt động lập quy hoạch, ban hành chính sách, kiểm kê, xếp hạng, bảo tồn và huy động nguồn lực xã hội.
  • Không gian thiêng di sản: Môi trường văn hóa tinh thần gắn kết giữa công trình kiến trúc vật thể với tín ngưỡng, lễ hội và ký ức cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Sắc lệnh số 65/SL năm 1945, Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, Nghị định số 70/2012/NĐ-CP và Quyết định số 17/2012/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Dữ liệu thực chứng bao gồm 18 hồ sơ di tích quốc gia, 51 hồ sơ di tích cấp tỉnh và báo cáo chuyên ngành từ Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vĩnh Tường.

Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn bộ 233 di tích trên địa bàn 26 xã và 3 thị trấn. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu định mức kết hợp chọn mẫu điển hình để tiến hành khảo sát điền dã chuyên sâu tại 10 xã đại diện như Lũng Hòa, Bình Dương, Thổ Tang, Tân Tiến, Bồ Sao, Đại Đồng, Yên Bình, Tam Phúc, Vĩnh Ninh và Phú Đa.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân loại định lượng hiện trạng di tích và phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa quản lý văn hóa, bảo tàng học, xã hội học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu khách quan giữa quy định pháp lý trên văn bản với diễn biến thực tế tại cơ sở, từ đó lượng hóa chính xác mức độ xuống cấp công trình và đánh giá đúng năng lực vận hành của bộ máy quản lý. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai liên tục từ năm 2001 đến tháng 5 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống di tích huyện Vĩnh Tường có mật độ dày đặc nhưng cơ cấu phân bố và loại hình có sự chênh lệch lớn. Trong tổng số 233 di tích, loại hình kiến trúc nghệ thuật chiếm ưu thế tuyệt đối với 225 công trình, tương đương 96,5% tổng số di tích toàn huyện. Trong đó, chùa chiếm tỷ lệ cao nhất với 80 di tích (chiếm 34%), đình làng có 73 di tích (chiếm 31%), miếu có 24 di tích (chiếm 10,3%), đền có 11 di tích (chiếm 4,7%) và các loại hình khác chiếm 20%. Di tích lịch sử và khảo cổ chỉ có 8 công trình, mỗi loại chiếm 1,7%. Về phân bố địa lý, xã Bình Dương tập trung nhiều nhất với 28 di tích (chiếm 12% toàn huyện), trong khi xã Bồ Sao chỉ có 2 di tích (chiếm 0,8%).

Thứ hai, thực trạng bảo tồn bộc lộ nhiều nguy cơ xuống cấp rõ rệt. Toàn huyện có 146 di tích trong tình trạng còn tốt (chủ yếu là công trình chưa xếp hạng xây dựng cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX), 69 di tích đã xếp hạng rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng cần tu bổ cấp thiết và 5 di tích thuộc dạng phế tích khảo cổ, lịch sử. Đáng chú ý, toàn huyện hiện còn 154 di tích chưa được lập hồ sơ xếp hạng, chiếm tới 66,1% tổng số di tích, tạo ra khoảng trống lớn trong cơ chế bảo vệ bằng pháp luật.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức bộ máy và chế độ đãi ngộ nhân sự còn nhiều bất cập. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vĩnh Tường có 9 cán bộ nhưng chỉ có 1 chuyên viên có trình độ cử nhân Quản lý văn hóa (chiếm 11,1%), số còn lại thuộc các chuyên ngành kinh tế, xã hội học, lịch sử, du lịch và sư phạm. Ở cấp cơ sở, mức phụ cấp cho người trực tiếp trông coi di tích theo quy định của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013 rất thấp: người trông coi di tích cấp quốc gia chỉ nhận 230.000 đồng/tháng (hệ số 0,2 mức lương tối thiểu), di tích cấp tỉnh nhận 115.000 đồng/tháng (hệ số 0,1), còn người trông coi di tích chưa xếp hạng hoàn toàn không có thù lao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng 69 di tích xếp hạng bị hư hỏng xuất phát từ tác động của thời gian, hiện tượng lún nứt kết cấu gỗ do mối mọt, rêu mốc và nguồn kinh phí cấp từ chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2007-2014 còn hạn chế. So sánh với các nghiên cứu bảo tồn tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Vĩnh Tường sở hữu kho tàng văn hóa đặc sắc như văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay 4.000 năm tại di chỉ Lũng Hòa, Nghĩa Lập cùng nghệ thuật điêu khắc Hậu Lê thế kỷ XVII-XVIII ở đình Thổ Tang, đình Đông, đình Nam.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua bảng cơ cấu loại hình và biểu đồ phân bổ mức độ xuống cấp của di tích. Việc thiếu vắng cán bộ chuyên sâu về bảo tàng và di sản tại cấp huyện dẫn đến công tác kiểm kê di vật, cổ vật gặp khó khăn, công tác phòng ngừa nguy cơ cháy nổ, trộm cắp cổ vật chưa đạt hiệu quả tối ưu. Bên cạnh đó, việc phân định ranh giới đất đai di tích và huy động nguồn vốn xã hội hóa chưa có quy chế kiểm soát minh bạch, dễ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa người dân bản địa và ban quản lý cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và phân cấp quản lý cụ thể. Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường cần ban hành quy chế phối hợp chi tiết giữa Phòng Văn hóa và Thông tin, Ủy ban nhân dân cấp xã và các tiểu ban thôn; đồng thời đề xuất nâng mức phụ cấp cho người trông coi di tích lên tối thiểu 0,5 mức lương cơ sở cho di tích quốc gia và 0,3 mức lương cơ sở cho di tích cấp tỉnh, hoàn thành trong giai đoạn 2016-2018 do Ủy ban nhân dân huyện và Phòng Nội vụ chủ trì thực hiện.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình tu bổ, phục hồi di tích đúng quy chuẩn khoa học. Mục tiêu đặt ra là xử lý dứt điểm tình trạng xuống cấp tại 69 di tích xếp hạng và lập hồ sơ công nhận xếp hạng mới cho 30 đến 40 di tích có giá trị tiêu biểu trước năm 2020. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện tổ chức thẩm định chặt chẽ hồ sơ thiết kế kỹ thuật, nghiêm cấm việc tự ý thay thế cấu kiện gốc làm sai lệch yếu tố nguyên bản của di tích.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ quản lý cơ sở. Tổ chức định kỳ hàng năm các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật bảo quản hiện vật, kỹ năng quản lý lễ hội và số hóa hồ sơ tư liệu cho 100% cán bộ văn hóa tại 29 xã, thị trấn cùng thành viên các ban quản lý di tích làng xã, bắt đầu triển khai ngay từ năm 2016.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa gắn liền với phát triển du lịch văn hóa bền vững. Xây dựng đề án kết nối các di tích tiêu biểu như đền đá Phú Đa, đình Thổ Tang, chùa Tùng Vân, di chỉ Lũng Hòa và cụm di tích thờ nữ tướng Lê Ngọc Trinh thành 2 tuyến du lịch trọng điểm của tỉnh; mục tiêu nâng tỷ lệ đóng góp từ nguồn vốn xã hội hóa hợp pháp chiếm từ 40% đến 50% tổng kinh phí tu bổ hàng năm, do Phòng Văn hóa và Thông tin chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp du lịch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện và cơ sở: Sử dụng các bảng biểu kiểm kê, quy trình tổ chức bộ máy và quy chế mẫu để chuẩn hóa hoạt động quản lý tại 29 xã, thị trấn.
  • Lãnh đạo chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích cấp xã: Ứng dụng khung giải pháp phân cấp trách nhiệm, phương án huy động vốn xã hội hóa và quy trình ứng phó khẩn cấp khi di tích gặp sự cố xuống cấp.
  • Nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa và khảo cổ học: Khai thác kho tư liệu thực chứng về văn hóa Phùng Nguyên 4.000 năm tuổi, hệ thống 145 sắc phong và 320 văn bia trên địa bàn huyện Vĩnh Tường.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học: Sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu tham khảo về phương pháp phân tích thực trạng quản lý di sản cấp huyện tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Huyện Vĩnh Tường có bao nhiêu di tích lịch sử văn hóa và loại hình nào chiếm tỷ lệ cao nhất? Địa phương hiện có 233 di tích lịch sử văn hóa phân bố tại 26 xã và 3 thị trấn. Trong đó, loại hình kiến trúc nghệ thuật chiếm tỷ lệ vượt trội với 225 di tích (tương đương 96,5%), dẫn đầu là hệ thống chùa với 80 công trình và đình làng với 73 công trình.

Thực trạng nguồn nhân lực quản lý văn hóa tại huyện Vĩnh Tường có những khó khăn gì? Phòng Văn hóa và Thông tin huyện có 9 nhân sự nhưng chỉ có 1 chuyên viên đào tạo đúng chuyên ngành Quản lý văn hóa. Đội ngũ quản lý cấp xã và thôn đa số kiêm nhiệm, độ tuổi cao và chưa qua đào tạo nghiệp vụ bảo quản di sản chuyên sâu.

Chính sách hỗ trợ thù lao cho người trông coi di tích tại địa phương được quy định như thế nào? Theo quy định năm 2013, người trực tiếp trông coi di tích quốc gia nhận mức phụ cấp 230.000 đồng/tháng (hệ số 0,2 lương tối thiểu), di tích cấp tỉnh nhận 115.000 đồng/tháng (hệ số 0,1). Riêng 154 di tích chưa xếp hạng chưa có chính sách thù lao.

Những di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu nào tại Vĩnh Tường mang giá trị nổi bật? Các di tích nổi bật gồm di chỉ khảo cổ học Lũng Hòa, Nghĩa Lập thuộc văn hóa Phùng Nguyên 4.000 năm, đình Thổ Tang với nghệ thuật điêu khắc Hậu Lê, đền đá Phú Đa, cụm di tích thờ nữ tướng Lê Ngọc Trinh và khu lưu niệm Bác Hồ tại thôn Lạc Trung.

Giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả bảo tồn di tích tại địa phương? Giải pháp đột phá là kết hợp tăng cường phân cấp quản lý với đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn vốn tu bổ và xây dựng các tour du lịch văn hóa tâm linh kết nối các di tích lịch sử nhằm tạo nguồn thu tái đầu tư.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học, pháp lý và thực tiễn công tác quản lý 233 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2001-2015.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng bảo tồn với 69 di tích xếp hạng xuống cấp, 154 di tích chưa xếp hạng và những hạn chế về cơ cấu nhân sự tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện.
  • Đề tài khẳng định giá trị đặc sắc của 18 di tích quốc gia, các di chỉ khảo cổ học 4.000 năm tuổi và các lễ hội truyền thống gắn liền với bản sắc cư dân lúa nước châu thổ sông Hồng.
  • Tác giả xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, quy chuẩn tu bổ, đào tạo nhân lực và xã hội hóa di sản gắn với phát triển du lịch.
  • Luận văn đề xuất các kiến nghị thiết thực gửi Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý di tích cấp cơ sở.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp bức tranh khảo sát thực chứng toàn diện đầu tiên về công tác quản lý di sản tại Vĩnh Tường, làm cơ sở khoa học để địa phương xây dựng đề án bảo tồn giai đoạn 2016-2025. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần tiếp tục ứng dụng các phát hiện của luận văn nhằm nâng cao hiệu quả gìn giữ kho tàng di sản quý báu của quê hương.