Luận văn quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Vĩnh Tường - ĐH Văn hóa HN

Nghiên cứu chuyên sâu về luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Phân tích vai trò quản lý trong bảo

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Tác giả

Nguyễn Anh Ngọc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

169
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn thạc sĩ quản lý di tích lịch sử văn hóa

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa về quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý di sản văn hóa vật thể. Nội dung tập trung phân tích hệ thống di tích, vai trò quản lý nhà nước và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị di sản. Đề tài đánh giá hiệu quả hoạt động của các cấp quản lý từ huyện đến xã, đề xuất hướng cải thiện công tác quản lý. Nghiên cứu góp phần hoàn thiện chính sách bảo vệ di tích, nâng cao nhận thức cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý di sản văn hóa địa phương.

1.1. Cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử văn hóa

Quản lý di tích lịch sử văn hóa dựa trên khung pháp lý quốc gia và địa phương, bao gồm Luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi 2013). Nội dung quản lý bao gồm lập quy hoạch, bảo vệ nguyên trạng, nghiên cứu khoa học và phát huy giá trị giáo dục. Cơ chế phối hợp giữa các cấp quản lý từ tỉnh đến xã đóng vai trò quan trọng. Yếu tố then chốt là đào tạo cán bộ quản lý có chuyên môn, cập nhật kiến thức pháp luật. Sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn di tích ngày càng được chú trọng. Tính bền vững của quản lý phụ thuộc vào nguồn lực tài chính và nhân lực chất lượng.

1.2. Hiện trạng di tích lịch sử văn hóa huyện Vĩnh Tường

Huyện Vĩnh Tường sở hữu 42 di tích lịch sử văn hóa, gồm đình, chùa, đền, miếu. Hệ thống di tích phản ánh lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước và văn hóa làng xã. Nhiều di tích được xếp hạng cấp tỉnh, quốc gia như Đình Lũng Ngoại thờ Hai Bà Trưng. Tình trạng xuống cấp do thiếu kinh phí tu bổ, ý thức cộng đồng chưa cao. Hoạt động khai thác du lịch di tích còn manh mún, thiếu chiến lược dài hạn. Thống kê cho thấy 68% di tích cần tu bổ khẩn cấp. Sự thiếu hụt cán bộ chuyên trách tại cấp xã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý.

II. Phân tích thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa

Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Vĩnh Tường đối mặt nhiều thách thức. Hệ thống quản lý phân tán giữa các cấp gây khó khăn trong phối hợp. Nguồn lực tài chính hạn chế dẫn đến tu bổ di tích chậm trễ. Đội ngũ cán bộ quản lý thiếu chuyên môn, đào tạo không thường xuyên. Hoạt động xã hội hóa bảo tồn chưa đạt hiệu quả mong đợi. Sự xuống cấp của di tích do tác động môi trường, biến đổi khí hậu. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa triệt để dẫn đến vi phạm pháp luật. Chưa có cơ chế đánh giá định kỳ hiệu quả quản lý. Thiếu sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển kinh tế địa phương. Tình trạng xâm hại di tích do ý thức kém của người dân vẫn diễn ra. Thống kê ghi nhận 15 vụ vi phạm pháp luật về di tích trong 5 năm qua.

2.1. Tổ chức bộ máy quản lý di tích

Phòng Văn hóa và Thông tin huyện là đầu mối quản lý nhà nước. Các xã thành lập Ban quản lý di tích cấp xã hoạt động kiêm nhiệm. Cấp tỉnh quản lý di tích quốc gia trực tiếp, cấp huyện quản lý di tích cấp tỉnh. Cơ chế phân cấp quản lý rõ ràng nhưng thiếu linh hoạt. Ban quản lý di tích xã thường thiếu chuyên môn nghiệp vụ. Sự phối hợp giữa các cấp chưa thường xuyên, thiếu thống nhất. Chưa có cơ chế khen thưởng, động viên cán bộ quản lý. Tình trạng chồng chéo chức năng giữa các đơn vị xảy ra. Sự thiếu hụt ngân sách hoạt động ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý.

2.2. Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Công tác lập quy hoạch di tích còn sơ sài, thiếu cập nhật. Hoạt động tu bổ di tích thường mang tính tình thế, thiếu kế hoạch dài hạn. Việc nghiên cứu khoa học di tích chưa được quan tâm đúng mức. Hoạt động tuyên truyền giáo dục di sản còn hạn chế về hình thức. Chưa khai thác hiệu quả giá trị du lịch di tích. Thiếu sự tham gia của các chuyên gia trong công tác tu bổ. Hoạt động xã hội hóa bảo tồn mới dừng ở mức vận động. Thiếu cơ chế huy động nguồn lực từ doanh nghiệp. Hoạt động hợp tác quốc tế trong bảo tồn chưa được triển khai. Thống kê cho thấy chỉ 30% di tích có hồ sơ khoa học đầy đủ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử

Để nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật phù hợp với thực tiễn địa phương. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp. Xây dựng kế hoạch tu bổ di tích dài hạn với nguồn vốn ổn định. Đẩy mạnh xã hội hóa bảo tồn thông qua huy động cộng đồng. Áp dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát di tích. Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo tồn di sản. Triển khai chương trình giáo dục di sản trong nhà trường. Xây dựng mô hình quản lý di tích bền vững tại cộng đồng. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học di tích. Tăng cường thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật.

3.1. Giải pháp về cơ chế chính sách

Cần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật địa phương cho phù hợp. Xây dựng cơ chế tài chính bền vững từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa. Thiết lập quỹ bảo tồn di tích từ nguồn thu du lịch. Áp dụng cơ chế ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tham gia bảo tồn. Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý di tích. Tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng trong quản lý di tích. Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý di tích. Thiết lập hệ thống báo cáo định kỳ về tình trạng di tích. Xây dựng cơ chế khen thưởng, kỷ luật trong quản lý. Áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ di tích.

3.2. Giải pháp tăng cường hoạt động bảo tồn

Cần xây dựng kế hoạch tu bổ di tích theo từng giai đoạn 5 năm. Áp dụng công nghệ tiên tiến trong tu bổ di tích. Tăng cường nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn. Triển khai chương trình tuyên truyền giáo dục di sản rộng rãi. Xây dựng sản phẩm du lịch di tích hấp dẫn. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm tại di tích. Thiết lập hệ thống giám sát tình trạng di tích trực tuyến. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo bảo tồn. Tổ chức hội thảo khoa học về quản lý di tích. Xây dựng mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn di tích.

IV. Kết luận và khuyến nghị quản lý di tích hiệu quả

Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện tình hình quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Vĩnh Tường. Kết quả cho thấy cần ưu tiên hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý. Giải pháp trọng tâm là huy động nguồn lực xã hội hóa bảo tồn. Đẩy mạnh giáo dục di sản trong cộng đồng để nâng cao ý thức bảo vệ. Áp dụng công nghệ số trong quản lý di tích là xu hướng tất yếu. Cần tăng cường hợp tác liên ngành, liên cấp trong quản lý. Kết luận nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong bảo tồn di sản. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho các cấp quản lý. Đề xuất khuyến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý di tích. Nghiên cứu góp phần thúc đẩy phát triển bền vững di sản văn hóa địa phương.

4.1. Đánh giá hiệu quả luận văn nghiên cứu

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử văn hóa. Phân tích thực trạng quản lý tại huyện Vĩnh Tường một cách toàn diện. Đề xuất giải pháp khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện chính sách quản lý di sản. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý địa phương. Đánh giá cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn. Nghiên cứu đã đáp ứng mục tiêu đề ra ban đầu. Kết quả có thể nhân rộng cho các địa phương tương tự. Tính ứng dụng của luận văn được thể hiện rõ trong thực tiễn.

4.2. Khuyến nghị triển khai thực tế

Cấp huyện cần ưu tiên nguồn lực cho tu bổ di tích khẩn cấp. Sở Văn hóa tỉnh Vĩnh Phúc cần tăng cường hỗ trợ chuyên môn. Ủy ban nhân dân huyện cần ban hành chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp. Cần xây dựng chương trình giáo dục di sản trong trường học. Ủy ban nhân dân các xã cần nâng cao vai trò cộng đồng trong quản lý. Cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo bảo tồn. Sở Văn hóa cần tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm quản lý. Cần xây dựng hệ thống giám sát di tích trực tuyến. Ủy ban nhân dân huyện cần ban hành quy chế khen thưởng cho cá nhân có thành tích. Cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lich sử văn hóa ở huyện vĩnh tường tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I, Điều 4, Mục 3 nêu: “Di tích lịch sử văn hóa là các công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. * Nghị định số 92/2001/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật DSVH; và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật DSVH và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH. * Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/09/2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh. * Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định nội dung hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt được.

* Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 quy định chi tiết về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. * Quyết định số: 17/2012/QĐ-UBND ngày 5/7/2012 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc quy định quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia trên địa bàn tỉnh. 23 Hệ thống các văn bản pháp lý về lĩnh vực quản lý DSVH nói chung và DTLSVH nói riêng được nhà nước Việt Nam ban hành trong thời gian qua là cơ sở pháp lý để các cấp ủy, chính quyền nhân dân các cấp; trong đó có huyện Vĩnh Tường thực hiện công tác quản lý DTLSVH góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Nội dung quản lý Nhà nước về di tích Trong quản lý xã hội, dưới bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật để điều tiết đối tượng đó; trong trường hợp quản lý di tích cũng không ngoại lệ, nó cần có biện pháp chế tài để điều chỉnh.

Nội dung quản lý nhà nước về di tích là bộ phận văn bản quan trọng được thể hiện trong Luật DSVH ban hàng năm 2001; và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật DSVH và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH đã nêu cụ thể tại chương V. Trong đó: Điều 54, Mục 1 quy định: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá.

Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá. Tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá. Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá.

Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, 8. Thanh tra kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá.” Điều 55, Mục 1, quy định: 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Di sản văn hóa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ. Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa. Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ. Những nội dung quản lý trên được cụ thể hóa trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý về DTLSVH.

Trong đó nội dung về quản lý đối với DTLSVH rất rộng, nên trong quá trình quản lý cần phải vận dụng và có phương pháp thích hợp nhằm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về DTLSVH nói riêng và DSVH nói chung. 25 Từ hệ thống văn bản pháp quy nêu trên, chúng ta có thể thấy Luật DSVH giữ vai trò quan trọng, là nền tảng cơ sở và hành lang pháp lý cho các ngành, các cấp; trong đó có UBND, Phòng VH&TT huyện Vĩnh Tường thực hiện chức năng quản lý DTLSVH góp phần vào việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, thúc đấy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương trong giai đoạn hiện nay. Tổng quan về di tích lịch sử văn hoá ở Vĩnh Tường 1. Khái quát về huyện Vĩnh Tường * Vị trí địa lý - tự nhiên Vĩnh Tường là một huyện đồng bằng, nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc phía Tây Nam tỉnh Vĩnh Phúc.

Diện tích tự nhiên 141,8km2, gồm 26 xã và 3 thị trấn. Dân số 19,6 vạn người. Danh giới tự nhiên phía Tây Bắc, Vĩnh Tường lấy sông Phó Đáy làm danh giới với huyện Lập Thạch; phía Tây Vĩnh Tường có sông Hồng làm danh giới tự nhiên với Việt Trì (tỉnh Phú Thọ) và Sơn Tây (TP Hà Nội); phía Tây Bắc, Vĩnh Tường giáp với xã Hoàng Lâu, Vân Hội, Hợp Thịnh thuộc huyện Tam Dương. Phía Đông huyện Vĩnh Tường hoàn toàn tiếp giáp với huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc [PL.

Khi hậu ở Vĩnh Tường là nhiệt đới gió mùa, phía bắc có dãy núi Tam Đảo, phía tây có núi Ba Vì che chắn nên điều kiện thời tiết không quá khắc nghiệt. Nền kinh tế truyền thống của Vĩnh Tường là nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước. * Lịch sử - văn hoá Vĩnh Tường là miền đất cổ thuộc bộ Văn Lang, một trong 15 bộ của Quốc gia Văn Lang, những đơn vị hành chính đầu tiên của Việt Nam được chia ra cương giới khu vực có kinh đô đóng ở vùng Bạch Hạc ngày nay. 26 Đầu Công nguyên, dưới thời nhà Hán, Vĩnh Tường thuộc quận Giao Chỉ.

Sang thời Đường, Vĩnh Tường là trung tâm của Châu Phong. Bước vào thời kỳ phong kiến tự chủ, thế kỷ X, Vĩnh Tương nằm trong Phủ Tam Đái. Đến thời Nhà Nguyễn, phủ Tam Đái đổi tên thành phủ Tam Đa. Năm Minh Mệnh thứ ba (1822) triều đình phong kiến cho lập phủ Vĩnh Tường gồm 5 huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Yên Lãng, Yên Lạc và Phù Ninh.

Tên địa danh Vĩnh Tường xuất hiện đầu tiên từ đây. Thời thuộc Pháp, thực hiện chính sách cai trị, trải qua nhiều lần tách nhập, năm 1899 chính quyền thực dân phong kiến thành lập tỉnh Vĩnh Yên gồm phủ Vĩnh Tường và các huyện Yên Lạc, Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đơn vị hành chính phủ Vĩnh Tường gồm có 10 tổng, 85 làng. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bỏ hai cấp hành chính là phủ và tổng, thực hiện tổ chức hành chính 4 cấp: xã, huyện, tỉnh, trung ương; theo đó phủ Vĩnh Tường được đổi thành huyện Vĩnh Tường thuộc tỉnh Vĩnh Yên.

Đến năm 1977, thực hiện Quyết định số 178-CP ngày 5/7/1977 của Chính phủ, huyện Vĩnh Tường sát nhập với huyện Yên Lạc thành huyện Vĩnh Lạc. Sau 19 năm sát nhập, ngày 7/10/1995, Chính phủ ra Nghị định 63-CP tách huyện Vĩnh Lạc thành 02 huyện: Vĩnh Tường và Yên Lạc. Huyện Vĩnh Tường được tái lập từ tháng 1 năm 1996. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dù có nhiều đổi thay, nhưng người dân Vĩnh Tường đã xây dựng và bồi đắp nên một truyền thống lịch sử thật đáng tự hào.

Đó là những bài học quý giá và là sự khích lệ lớn lao đối với người dân Vĩnh Tường hôm nay, đặc biệt là thế hệ trẻ trên bước đường xây dựng quê hương ngày một thêm giàu đẹp. 27 Với vị trí địa nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng nên Vĩnh Tường sớm trở thành một trong những chiếc nôi của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Đến bất cứ làng xã nào ở huyện Vĩnh Tường chúng ta cũng bắt gặp những di tích đình, chùa, miếu tôn thờ các nhiên thần, nhân thần, các anh hùng lịch sử văn hoá đã có công với đất nước, với dân làng. Gắn với hệ thống di tích này là các lễ hội truyền thống tiêu biểu như: Hội trình nghề và tung còn ở làng Bích Đại; Hội cướp bông, cướp mạ ở Bồ Sao; cướp phết ở Thượng Lạp; Hội bắt vịt trong ao, bắt chạch trong chum ở Tứ Trưng: Lễ cầu tằm ở Vĩnh Ninh, Bàn Mạch; Tục săn cuốc ở Huy Ngạc; Hú đáo đá ở Lũng Ngoại; Múa đao đánh gậy ở Tam Phúc; Múa trình diễn trâu rơm, bò rạ, tứ dân chi nghiệp ở đại Đồng; Lễ hội xuống đồng ở Hoàng Xá; Thi bơi chải ở Vĩnh Ninh, Phúi đa; Thi vật ở Yên Bình; Kéo co ở Hoà Loan.

Các loại hình diễn xướng dân gian, nghệ thuật biểu diẫn dân gian cũng được bảo tồn, lưu truyền trong làng quê Vĩnh Tường. * Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã ghi lại truyền thống yêu nước và khí phách kiên cường, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm của nhân dân Vĩnh Tường. Từ thuở Hùng Vương dựng nước có Đinh Thiên Tích ở xã đại đồng giúp vua đánh giặc Ân. Đến năm 40-43 SCN ở làng Lũng Ngoại có bà Lê Thị Ngọc Trinh, chiêu mộ dân binh đánh giặc Hán hưởng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Thời nhà Trần có ông nguyễn Văn Nhượng người làng Văn Tưng, lập nhiều công lao giúp triều đình chống quân Chiêm Thành xâm lược,…Đến cuối thể kỷ 19, thực dân Pháp xâm lược nước ta, hưởng ứng phong trào Cần Vương, nhiều người dân Vĩnh Tường đã tham gia các phong trào dân binh chống Pháp, tiêu biểu như: Nguyễn Quý Tân, Lãnh Sâm, Đội Cấn. Đầu thế kỷ XX, có Chủ tịch Việt Nam quốc dân Đảng Nguyễn Thái Học lãnh đạo cuộc 28 khởi nghĩa Yên Bái vào tháng 2 năm 1930 tạo nên tiếng vang lớn cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ