Luận văn thạc sĩ: Pháp luật về giao khoán đất rừng - ĐHQG Hà Nội

Luận văn thạc sĩ luật học về pháp luật giao khoán đất rừng. Phân tích thực trạng, quy định hiện hành và giải pháp hoàn thiện pháp lý hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan lý luận pháp luật về giao khoán đất rừng

Đề tài luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về giao khoán đất rừng làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động quản lý lâm nghiệp. Giao khoán đất rừng là phương thức chuyển giao quyền quản lý và sử dụng đất rừng từ các tổ chức nhà nước sang hộ gia đình và cá nhân. Bên giao khoán chủ yếu gồm ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng và công ty nông lâm nghiệp. Bên nhận khoán là người dân địa phương, đồng bào dân tộc thiểu số và người lao động tại chỗ. Pháp luật quy định rõ nguyên tắc tự nguyện, công khai và đúng mục đích sử dụng. Hợp đồng giao khoán là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. Chế định này giúp nhà nước huy động nguồn lực xã hội vào công tác quản lý tài nguyên. Người dân có thêm sinh kế, việc làm và thu nhập từ hoạt động bảo vệ rừng. Mô hình này kết hợp hài hòa giữa lợi ích công cộng và lợi ích kinh tế của người dân. Nghiên cứu lý luận tạo nền tảng định hình khung chính sách lâm nghiệp hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của giao khoán đất rừng

Giao khoán đất rừng là sự thỏa thuận pháp lý bằng hợp đồng giữa tổ chức nhà nước và người dân. Nhà nước ủy quyền cho bên giao khoán trao quyền quản lý một diện tích rừng cụ thể. Bên nhận khoán có nghĩa vụ bảo vệ, chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh rừng theo quy hoạch. Điểm đặc thù là quan hệ khoán mang tính chất lưỡng tính giữa hành chính và dân sự. Hợp đồng vừa tuân thủ các quy định bảo vệ rừng bắt buộc, vừa tôn trọng ý chí tự nguyện của các bên tham gia. Đất rừng giao khoán không thể đem thế chấp, chuyển nhượng hoặc chuyển đổi mục đích tùy tiện. Cơ chế này bảo đảm quyền sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng.

1.2. Chủ thể và nguyên tắc cơ bản trong hợp đồng giao khoán

Chủ thể giao khoán gồm các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng đặc dụng và ban quản lý rừng phòng hộ. Chủ thể nhận khoán là các hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư sinh sống hợp pháp tại địa phương. Quy định ưu tiên giao khoán cho đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo thiếu đất sản xuất. Nguyên tắc giao khoán đòi hỏi tính công khai, dân chủ và minh bạch trong mọi giai đoạn. Diện tích đất giao khoán phải phù hợp với năng lực quản lý của bên nhận khoán. Hạn mức giao khoán được xác định theo quy định của pháp luật đất đai và lâm nghiệp hiện hành. Các bên phải tuân thủ nghiêm ngặt phương án quản lý rừng bền vững.

II. Thực trạng bất cập của pháp luật về giao khoán đất rừng

Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao khoán đất rừng bộc lộ nhiều điểm nghẽn và hạn chế lớn. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tính đồng bộ giữa Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp. Quy định về quyền tài sản của bên nhận khoán vẫn chưa thực sự rõ ràng. Người nhận khoán chưa được hưởng lợi ích tương xứng với công sức bảo vệ rừng đã bỏ ra. Nhiều địa phương xảy ra tình trạng giao khoán đất rừng mang tính hình thức và thiếu kiểm soát. Tình trạng chuyển nhượng hợp đồng khoán trái pháp luật diễn biến phức tạp tại nhiều vùng cao. Tranh chấp đất đai giữa các công ty nông lâm nghiệp và người dân bản địa vẫn kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm. Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng và hỗ trợ khoán bảo vệ còn thấp. Thủ tục hành chính trong ký kết và thanh lý hợp đồng giao khoán vẫn còn rườm rà. Năng lực giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước cấp cơ sở còn nhiều lỗ hổng lớn. Những bất cập này làm giảm động lực gắn bó với rừng của người dân.

2.1. Mâu thuẫn pháp lý và cơ chế hưởng lợi từ đất rừng nhận khoán

Quy định pháp luật hiện hành chưa phân định rõ ranh giới quyền tài sản của người nhận khoán. Người dân bỏ vốn và công sức chăm sóc cây rừng nhưng khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Giấy tờ hợp đồng giao khoán không có giá trị thế chấp như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tỷ lệ phân chia sản phẩm gỗ khai thác và lâm sản ngoài gỗ còn thiên lệch về phía bên giao khoán. Chính sách chi trả kinh phí khoán bảo vệ rừng thường xuyên bị chậm trễ và định mức còn quá thấp so với chi phí thực tế. Sự bất cập này khiến người dân khó duy trì sinh kế bền vững từ việc giữ rừng.

2.2. Tranh chấp đất đai và kẽ hở trong quản lý lâm trường quốc doanh

Quá trình sắp xếp và đổi mới các nông lâm trường quốc doanh để lại nhiều hệ lụy phức tạp. Ranh giới đất rừng trên thực địa của nhiều đơn vị không trùng khớp với hồ sơ địa chính. Tình trạng chồng lấn diện tích giữa đất giao khoán và đất canh tác truyền thống của đồng bào bản địa xảy ra phổ biến. Nhiều công ty lâm nghiệp giữ diện tích đất quá lớn nhưng không đủ nhân lực quản lý trực tiếp. Việc chuyển nhượng hợp đồng giao khoán bất hợp pháp cho người ngoài địa phương diễn ra ngấm ngầm. Các tranh chấp khiếu kiện kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự nông thôn miền núi.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao khoán đất rừng

Luận văn thạc sĩ luật học đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật về giao khoán đất rừng. Trước hết cần đồng bộ hóa các quy định giữa Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp và Bộ luật Dân sự. Nhà nước phải luật hóa rõ ràng cơ chế bảo hộ quyền tài sản cho bên nhận khoán đất rừng. Hợp đồng giao khoán cần được xây dựng theo biểu mẫu chuẩn mực với điều khoản minh bạch. Quy định mới cần mở rộng quyền thế chấp giá trị tài sản gắn liền với rừng nhận khoán để tiếp cận vốn ngân hàng. Mức chi trả tiền khoán bảo vệ rừng cần được điều chỉnh tăng theo giá thị trường. Cần quy định tỷ lệ chia sẻ lợi ích công bằng hơn đối với sản phẩm khai thác từ rừng sản xuất. Các cơ quan chức năng phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ bản đồ số vào quản lý ranh giới giao khoán. Công tác giải quyết tranh chấp đất lâm nghiệp cần ưu tiên cơ chế hòa giải cơ sở kết hợp hỗ trợ pháp lý. Hoàn thiện chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi mua bán, sang nhượng đất khoán trái phép.

3.1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý về quyền và lợi ích nhận khoán

Cần hoàn thiện quy định về quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng nhận khoán đất rừng. Pháp luật nên cho phép bên nhận khoán sử dụng thành quả lao động trên đất khoán làm tài sản bảo đảm vay vốn. Cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích dài hạn từ tín chỉ carbon rừng cho người trực tiếp nhận khoán. Mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng hàng năm cần được điều chỉnh linh hoạt theo chỉ số giá tiêu dùng. Quy trình thanh toán chi trả dịch vụ môi trường rừng phải được chuyển khoản trực tiếp và công khai. Đảm bảo lợi ích kinh tế thỏa đáng là chìa khóa duy trì diện tích rừng phòng hộ bền vững.

3.2. Đổi mới quy trình thủ tục và giải quyết khiếu kiện đất rừng

Chính quyền địa phương cần rà soát và đơn giản hóa thủ tục lập hồ sơ giao khoán đất rừng. Mọi hợp đồng giao khoán bắt buộc phải tích hợp tọa độ số hóa và cắm mốc ranh giới rõ ràng trên thực địa. Đẩy mạnh thanh tra định kỳ việc sử dụng đất rừng tại các ban quản lý và công ty nông lâm nghiệp. Thành lập hội đồng hòa giải chuyên trách tại cấp xã để giải quyết kịp thời các tranh chấp đất rừng. Tăng cường tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp bằng ngôn ngữ bản địa cho đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ chế giám sát chặt chẽ giúp loại bỏ tiêu cực và tranh chấp đất đai kéo dài.

IV. Ứng dụng thực tiễn pháp luật về giao khoán đất rừng

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về giao khoán đất rừng mang giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn sâu sắc. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ vững chắc phục vụ sửa đổi chính sách lâm nghiệp quốc gia. Các kiến nghị giúp cơ quan quản lý đất đai địa phương chuẩn hóa quy trình giao khoán đất rừng. Doanh nghiệp lâm nghiệp có thể áp dụng mẫu hợp đồng chuẩn để giảm thiểu rủi ro pháp lý và tránh tranh chấp. Người dân vùng sâu vùng xa hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp khi nhận khoán bảo vệ rừng. Mô hình giao khoán gắn với phát triển du lịch sinh thái và kinh tế dưới tán rừng mở ra hướng đi giàu tiềm năng. Quản lý rừng bền vững đóng vai trò cốt lõi trong cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Việc thực thi pháp luật nghiêm minh sẽ thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân vào lâm nghiệp. Đổi mới thể chế giao khoán đất rừng là động lực nâng cao sinh kế và bảo vệ môi trường sinh thái.

4.1. Giá trị tham khảo cho công tác lập pháp và hoạch định chính sách

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà lập pháp khi hoàn thiện Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp. Công trình làm sáng tỏ những lỗ hổng trong phân bổ nguồn lực đất đai lâm nghiệp tại các địa phương. Các cơ quan quản lý nhà nước có thể vận dụng đề xuất để ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết về hạn mức khoán. Khung chính sách hoàn thiện sẽ hỗ trợ cơ cấu lại các công ty nông lâm nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả hơn. Hoạch định chính sách chuẩn xác tạo tiền đề thực thi cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình kinh tế rừng và sinh kế cộng đồng

Các giải pháp pháp lý đề xuất hỗ trợ đắc lực cho việc phát triển mô hình lâm nghiệp cộng đồng bền vững. Hộ gia đình nhận khoán có thể kết hợp trồng trọt dược liệu dưới tán rừng để gia tăng thu nhập hàng ngày. Hợp đồng giao khoán minh bạch tạo điều kiện liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp chế biến gỗ và người dân. Chính quyền địa phương dễ dàng lồng ghép nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia vào việc hỗ trợ nhận khoán. Nâng cao sinh kế giúp giảm thiểu áp lực khai thác rừng trái phép và bảo vệ hệ sinh thái đầu nguồn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật học pháp luật về giao khoán đất rừng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO KHOÁN ĐẤT RỪNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤT RỪNG VÀ GIAO KHOÁN ĐẤT RỪNG 1. Khái niệm, phân loại đất rừng Rừng được hiểu là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1ha trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.

Như vậy đất rừng là một bộ phận của rừng và có sự tương tác qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất; ở vùng đất có rừng nhất là vùng đồi núi có độ dốc thì rừng chế ngự dòng chảy, ngăn chặn xói mòn đất nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì. Rừng tốt tạo ra đất tốt và đất tốt nuôi lại rừng tốt, rừng mất thì đất kiệt và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong. Tiêu chí để phân loại đất rừng được căn cứ theo mục đích sử dụng đất rừng và được phân thành 3 loại: đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất rừng sản xuất.

Đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng thuộc nhóm đất nông nghiệp, là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hỏa hoạn hay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để 12 trồng rừng mới) bao gồm đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và đất rừng sản xuất. - Đất rừng phòng hộ là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về BV&PTR; bao gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ.

- Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn quốc gia, bảo vệ di tích lục sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về BV&PTR; bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng. - Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về BV&PTR; bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất. Đất rừng có một số đặc điểm sau: - Đất rừng là đất sử dụng cho mục đích trồng, tạo môi trường sinh thái, phục vụ nghiên cứu thí nghiệm rừng… Trong đó đất rừng bao gồm đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng. - Đất rừng được phân bố ở vùng có địa hình đồi núi là chính, một số ít được phân bố ở vùng đồng bằng như rừng phòng hộ.

- Đất rừng là một thành phần quan hệ bảo vệ đất, nguồn nước, môi trường (rừng phòng hộ); sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cành (rừng đặc dụng); sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế mà ở đây là kinh tế lâm nghiệp (rừng sản xuất). Ở bất kỳ mục đích sử dụng nào thì đất rừng cũng được sử dụng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Khái niệm về giao đất, cho thuê đất và giao khoán đất rừng Theo pháp luật đất đai hiện hành: khái niệm giao đất, cho thuê đất được hình thành từ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Theo đó, một trong các quyền của đại diện chủ sở hữu đất đai (Nhà nước) thực hiện với người dân là Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.

Sau khi được trao quyền sử dụng đất, người dân hoặc tổ chức trở thành người sử dụng đất và thực hiện các quyền sử dụng của mình đối với đất đai theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, giao đất và cho thuê đất không phải là một khái niệm đồng nhất mà nó là hai hình thức trao quyền sử dụng đất khác nhau mà Nhà nước (đại diện chủ sở hữu) trao cho các cá nhân hoặc các tổ chức có nhu cầu sử dụng. Cụ thể như sau: Giao đất rừng: Là hành vi hành chính. Thông qua quyết định giao đất rừng, cơ chế giao đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân làm phát sinh quan hệ giữa nhà nước là chủ thể giao đất rừng với người sử dụng đất trực tiếp được giao đất rừng.

Người được giao đất rừng trở thành "chủ rừng", có quyền hạn và nghĩa vụ được quy định trong Luật BV&PTR. Thông qua cơ chế giao đất, Nhà nước không chỉ xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn cứ pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luật mà còn làm cơ sở pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng đất theo pháp luật, phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai trong thực tiễn cuộc sống. Với mục đích là bảo đảm cho tài nguyên đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích, mang lại hiệu quả cao, chính sách giao đất đã tạo điều kiện cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư vốn, công sức nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất đai, cải tạo bồi bổ đất đai, phát triển sản xuất, thực sự coi đất như tài sản của mình và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Giao đất là việc tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng các quyết định hành chính trong đó ghi rõ giao đất sử dụng vào mục đích gì, giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc giao đất không thu tiền sử dụng đất.

14 Cho thuê đất rừng: Là hành vi hành chính, là một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai. Thông qua hợp đồng thuê đất rừng giữa một bên Nhà nước với người dân là bên nhận quyền được nhà nước cho thuê đất rừng. Khái niệm giao khoán đất rừng: Giao khoán đất rừng là sự thỏa thuận của hai bên, theo đó bên nhận khoán đất rừng có nghĩa vụ hoàn thành một công việc nhất định theo yêu cầu của bên giao khoán đất rừng và sau khi đã hoàn thành phải bàn giao cho bên giao khoán đất rừng kết quả của công việc đó. Chủ thể giao khoán đất rừng nhận lại thành quả công việc đã được giao khoán.

Sự khác biệt giữa hình thức giao khoán đất rừng với hình thức giao đất rừng, cho thuê đất rừng: Giao đất là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất đã trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu. Quyết định giao đất có thời hạn hoặc giao ổn định lâu dài, giao có hạn mức, giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc không thu tiền sử dụng đất. Giao khoán đất rừng là việc tổ chức được Nhà nước giao quản lý đất rừng, trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu bằng giao khoán có sự thỏa thuận giữa hai bên, theo đó bên giao khoán phải trả thù lao, công cụ, vật tư. cho bên nhận khoán, ngược lại bên nhận khoán phải thực hiện đúng yêu cầu của bên giao khoán.

Thuê đất là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất có thời hạn và hạn mức thuê theo thỏa thuận. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO KHOÁN ĐẤT RỪNG 1. Khái niệm pháp luật về giao khoán đất rừng Trong mối quan hệ với tổng thể hệ thống pháp luật về đất đai giao khoán đất rừng là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai mà ở đó Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thông qua hợp đồng giao 15 khoán đất rừng. Thông qua cơ chế giao khoán đất rừng Nhà nước không chỉ xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng, làm căn cứ để giải quyết mọi quan hệ pháp luật về giao khoán đất rừng mà còn làm cơ sở pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình đối với đất rừng được giao khoán theo pháp luật, phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai trong thực tiễn cuộc sống.

Với mục đích là cho đảm bảo tài nguyên đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích, mang lại hiểu quả cao. Chính sách giao khoán đất rừng đã tạo điều kiện cho người được giao khoán yên tâm đầu tư vốn, công sức nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất rừng, cải tạo bồi bổ đất rừng thực sự coi đất rừng như tài sản của mình và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất rừng. Khái niệm pháp luật về giao khoán đất rừng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ trong giao khoán đất rừng được sử dụng đối với các tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (trước đây là các nông trường, lâm trường quốc doanh) sau đó các tổ chức này giao khoán theo hợp đồng cho hộ gia đình, cá nhân để trồng rừng, bảo vệ rừng. Như vậy thực chất hợp đồng giao khoán đất rừng là hợp đồng dân sự, là sự thỏa thuận giữa bên giao khoán và bên nhận khoán.

Mối quan hệ này được điều chỉnh bằng các quy định luật pháp khác nhau. Nhà nước đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu, có vai trò cao nhất, thực hiện việc giao đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Dương Như Quỳnh (2018), Pháp luật về giao khoán đất rừng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
APA 7
Dương, N. Q. (2018). Pháp luật về giao khoán đất rừng ở Việt Nam [Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/lv-ths-luat-hoc-phap-luat-ve-giao-khoan-dat-rung/9443575478
IEEE
N. Q. Dương, "Pháp luật về giao khoán đất rừng ở Việt Nam," Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2018. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/lv-ths-luat-hoc-phap-luat-ve-giao-khoan-dat-rung/9443575478

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác