Pháp luật về sử dụng nguồn sông quốc tế: Thực trạng và giải pháp

Luận văn phân tích pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế, đánh giá thực trạng thực thi và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

131
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế

Nguồn sông quốc tế là hệ thống thủy văn chảy qua hoặc tạo thành ranh giới giữa hai hay nhiều quốc gia. Nhu cầu khai thác nước ngọt gia tăng dẫn đến cạnh tranh gay gắt giữa các nước thượng lưu và hạ lưu. Pháp luật quốc tế về nguồn nước hình thành nhằm duy trì trật tự và hòa bình lưu vực. Các văn bản pháp lý quốc tế then chốt bao gồm Quy tắc Helsinki 1966 và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho mục đích phi giao thông năm 1997 (UNWC). Những văn kiện này xác định rõ quyền khai thác đi đôi với trách nhiệm bảo tồn dòng chảy. Pháp luật điều chỉnh các hoạt động thủy điện, nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và giao thông thủy. Cơ chế hợp tác đa phương giúp các quốc gia giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Quá trình pháp điển hóa luật quốc tế tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững. Các nước ven sông cùng chịu ràng buộc bởi nguyên tắc chia sẻ tài nguyên công bằng. Việc tuân thủ chuẩn mực chung giảm thiểu nguy cơ xung đột nguồn nước xuyên biên giới.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của các nguồn sông quốc tế

Sông quốc tế là dòng nước chảy qua lãnh thổ nhiều quốc gia hoặc tạo thành ranh giới phân định biên giới tự nhiên. Tính liên tục về mặt thủy văn tạo nên sự gắn kết hữu cơ giữa các đoạn sông. Bất kỳ tác động nào ở thượng nguồn đều ảnh hưởng trực tiếp đến hạ lưu. Nguồn sông quốc tế mang tính chất tài nguyên dùng chung, thuộc chủ quyền của nhiều bên liên quan. Đặc điểm địa lý này đòi hỏi cơ chế quản lý lưu vực thống nhất thay vì quản lý theo ranh giới hành chính đơn thuần. Việc khai thác sông quốc tế phục vụ đa mục đích từ năng lượng, tưới tiêu đến vận tải. Sự phụ thuộc lẫn nhau khiến nguồn nước trở thành vấn đề chiến lược an ninh sinh thái.

1.2. Các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật quốc tế về nguồn nước

Luật quốc tế về nguồn nước vận hành dựa trên ba nguyên tắc trụ cột. Thứ nhất là nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp lý tài nguyên nước. Nguyên tắc này cân đối lợi ích kinh tế, xã hội của mọi quốc gia ven sông. Thứ hai là nghĩa vụ không gây tổn hại đáng kể cho các nước láng giềng. Các quốc gia thượng nguồn phải thực hiện đánh giá tác động môi trường kỹ lưỡng trước khi xây đập. Thứ ba là nghĩa vụ hợp tác, trao đổi dữ liệu và tham vấn trước khi triển khai công trình. Các nguyên tắc này tạo cơ sở pháp lý để ngăn chặn xung đột, bảo vệ hệ sinh thái và thúc đẩy sử dụng bền vững.

II. Thực trạng pháp luật sử dụng nguồn sông quốc tế tại Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nằm ở hạ lưu của hai hệ thống sông quốc tế lớn gồm sông Hồng và sông Mê Kông. Tổng lượng nước mặt phụ thuộc vào nguồn ngoại lai từ thượng nguồn lên đến gần 80%. Thực trạng này khiến an ninh nguồn nước quốc gia đứng trước nhiều nguy cơ nghiêm trọng. Hệ thống pháp luật Việt Nam từng bước nội luật hóa các cam kết quốc tế thông qua Luật Tài nguyên nước và văn bản hướng dẫn. Việt Nam tích cực tham gia Hiệp định Mê Kông năm 1995 và gia nhập Công ước UNWC 1997. Tuy nhiên, khung pháp lý trong nước vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Cơ chế chia sẻ thông tin thủy văn với các nước thượng nguồn như Trung Quốc còn thiếu tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ. Các hiệp định song phương về quản lý lưu vực sông Hồng chưa được ký kết toàn diện. Tình trạng suy giảm lưu lượng dòng chảy mùa kiệt gây ra xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nguy cơ ô nhiễm xuyên biên giới và mất an toàn hồ đập chưa có quy trình ứng phó liên quốc gia đồng bộ.

2.1. Thành tựu trong việc thực thi pháp luật quốc tế về sông liên quốc gia

Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong việc xây dựng hành lang pháp lý về nguồn nước quốc tế. Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên phê chuẩn Công ước UNWC 1997, thể hiện cam kết hội nhập mạnh mẽ. Hoạt động phối hợp trong khuôn khổ Ủy hội sông Mê Kông quốc tế (MRC) duy trì sự gắn kết giữa các quốc gia thành viên. Quy trình thủ tục thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận (PNPCA) được vận dụng hiệu quả để giám sát các dự án thủy điện. Hệ thống luật pháp trong nước từng bước hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ môi trường nước.

2.2. Những bất cập và thách thức pháp lý đối với an ninh nguồn nước

Nhiều khoảng trống pháp lý đang tạo ra thách thức lớn cho Việt Nam. Việc thiếu vắng các điều ước song phương toàn diện với Trung Quốc khiến việc kiểm soát dòng chảy sông Hồng gặp khó khăn. Các thỏa thuận hiện hành trong khu vực chủ yếu mang tính tự nguyện, thiếu chế tài xử phạt khi vi phạm cam kết xả nước. Khả năng giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài hoặc tòa án quốc tế chưa được cụ thể hóa trong các văn kiện khu vực. Năng lực quan trắc, dự báo tác động môi trường xuyên biên giới còn hạn chế, gây bất lợi trong quá trình đàm phán.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật sử dụng sông quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về sử dụng sông quốc tế đòi hỏi chiến lược đồng bộ ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế. Ở cấp độ trong nước, việc rà soát và bổ sung các quy định cụ thể về quản lý nguồn nước liên quốc gia trong Luật Tài nguyên nước là yêu cầu cấp thiết. Cần xây dựng quy chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa ngoại giao, môi trường và nông nghiệp. Các tiêu chuẩn kỹ thuật về quan trắc chất lượng nước và xả thải xuyên biên giới cần được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế. Ở cấp độ song phương, Việt Nam cần chủ động thúc đẩy ký kết hiệp định chia sẻ tài nguyên nước với Trung Quốc trên lưu vực sông Hồng. Ở cấp độ đa phương, các nước thành viên cần nâng cao hiệu lực pháp lý của Hiệp định Mê Kông 1995. Cần tích hợp các điều khoản của Công ước UNWC 1997 vào cơ chế vận hành của Ủy hội sông Mê Kông. Các bên phải thiết lập cơ chế giám sát độc lập và giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc cao.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý quốc gia và năng lực thực thi

Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để triển khai Luật Tài nguyên nước một cách đồng bộ. Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc theo dõi, cảnh báo rủi ro nguồn nước từ biên giới. Chính phủ cần đầu tư hệ thống trạm quan trắc tự động dọc các sông biên giới phía Bắc và Tây Nam. Dữ liệu quan trắc phải được kết nối liên tục phục vụ nghiên cứu và đấu tranh pháp lý. Đào tạo đội ngũ chuyên gia luật quốc tế chuyên sâu về tài nguyên nước là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao vị thế khi tham gia đàm phán.

3.2. Đẩy mạnh ngoại giao nguồn nước và hợp tác quốc tế đa tầng

Ngoại giao nguồn nước cần được lồng ghép chặt chẽ vào chính sách đối ngoại tổng thể của Việt Nam. Cần vận động các quốc gia thượng nguồn chia sẻ dữ liệu thủy văn theo thời gian thực trong mùa khô và mùa lũ. Thúc đẩy đàm phán điều ước quốc tế đa phương có sự tham gia đầy đủ của toàn bộ các quốc gia ven sông. Các cơ chế hợp tác như Lan Thương - Mê Kông cần được bổ sung nguyên tắc pháp lý quốc tế rõ ràng. Việt Nam cần chủ động đề xuất sáng kiến bảo vệ môi trường nước nhằm thu hút sự ủng hộ từ các tổ chức quốc tế.

IV. Kết luận ứng dụng pháp luật về nguồn sông quốc tế ở Việt Nam

Nghiên cứu pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với Việt Nam. Tài nguyên nước là yếu tố sống còn cho phát triển nông nghiệp, an ninh năng lượng và ổn định xã hội. Vị trí địa lý ở hạ lưu đòi hỏi Việt Nam phải chủ động xây dựng lá chắn pháp lý vững chắc. Việc kết hợp chặt chẽ giữa luật pháp quốc gia và các công ước quốc tế tạo thế chủ động trong bảo vệ chủ quyền môi trường. Các đề xuất từ luận văn thạc sĩ luật học cung cấp luận cứ khoa học cho cơ quan quản lý trong hoạch định chính sách. Việc áp dụng đúng đắn nguyên tắc công bằng và hợp lý giúp bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các quốc gia lưu vực sông. Sự đồng thuận pháp lý giữa các nước ven sông là chìa khóa duy trì hòa bình và an ninh tài nguyên lâu dài. Đầu tư hoàn thiện khung pháp lý và ngoại giao nước là chiến lược bảo vệ lợi ích quốc gia tối ưu trong thời đại biến đổi khí hậu.

4.1. Giá trị lý luận và đóng góp học thuật của đề tài nghiên cứu

Đề tài luận văn thạc sĩ luật học đã hệ thống hóa các lý thuyết pháp lý quốc tế về khai thác dòng chảy liên biên giới. Công trình làm rõ mối quan hệ giữa chủ quyền quốc gia và trách nhiệm bảo tồn lưu vực chung. Bằng việc phân tích sâu các án lệ và điều ước quốc tế, nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học cho ngành luật tài nguyên nước tại Việt Nam. Các luận điểm đưa ra giúp chuẩn hóa thuật ngữ và phương pháp tiếp cận trong giảng dạy luật quốc tế. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu và luật gia chuyên ngành.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tế trong hoạch định chính sách an ninh nước

Các giải pháp trong luận văn có tính ứng dụng cao cho các cơ quan tham mưu chính sách như Bộ Ngoại giao và Bộ Tài nguyên Môi trường. Đề xuất hoàn thiện hiệp định sông Hồng giúp tạo kênh trao đổi thông tin kỹ thuật thường xuyên với phía thượng nguồn. Cơ chế tài chính chia sẻ lợi ích thủy điện và bảo vệ đầu nguồn có thể áp dụng vào các dự án cụ thể. Việc nâng cao hiệu quả tham vấn MRC giúp bảo vệ vùng trồng trọt trọng điểm miền Tây trước nguy cơ hạn mặn gay gắt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật học pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế thực trạng và giải pháp tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT SỬ DỤNG CÁC NGUỒN SÔNG QUỐC TẾ 1. Khái quát chung về nguồn sông quốc tế 1. Khái niệm, đặc điểm 1. Khái niệm Vào cuối thế kỷ XVIII, các nguồn nước quốc tế được hiểu đơn giản là các sông quốc tế chảy qua lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia.

Trong thế kỷ XIX, khái niệm các nguồn nước quốc tế được mở rộng, bao gồm không những sông mà cả các hồ quốc tế như được nêu trong Định ước cuối cùng của Hội nghị Viên 1815 (Điều 108, Định ước cuối cùng của Hội nghị Viên năm 1815). Sông và hồ quốc tế được đề cập ở đây chỉ hạn chế trong các sông, hồ quốc tế có thể giao thông được mà thôi [16]. Về sau này, khái niệm sông, hồ quốc tế được mở rộng để bao gồm cả các nhánh, các kênh đào nối với dòng chính của các sông hoặc hồ đó. Tuy vậy, khái niệm trên không bao gồm nước ngầm mà chỉ bao gồm nước mặt của nguồn nước quốc tế đó [41].

Bắt đầu từ những năm 50, Hội luật quốc tế mới bắt đầu nêu ra khái niệm lưu vực sông quốc tế và đến năm 1966 khái niệm này với nội dung tương đối toàn diện và khoa học đã được đưa vào trong Quy tắc Helsinki do Hội thông qua (gọi là Quy tắc Helsinki 1966). Theo quy tắc này, một lưu vực sông quốc tế là một khu vực địa lý nằm trên hai hay nhiều quốc gia được giới hạn bởi lưu vực của hệ thống các nguồn nước, trong đó có nước mặt và nước ngầm cùng chảy vào điểm cuối chung (Điều 2 Quy tắc Helsinki 1966). Khái niệm nguồn nước quốc tế này rộng hơn nhiều các khái niệm vẫn được sử dụng trước kia, vì nó bao gồm toàn bộ hệ thống dòng chính, dòng nhánh, hồ, kênh, đào và nước ngầm và những thành phần môi trường khác trong cả lưu vực của một nguồn nước quốc tế. 7 Quy tắc Heksinki 1966 đã xem xét lại cơ bản khái niệm nguồn nước quốc tế.

Theo quy tắc này, toàn bộ lưu vực sông quốc tế là một thể thống nhất. Do đó, chỉ có thể sử dụng và phát triển nguồn nước có hiệu quả khi tiến hành quản lý tổng thể nguồn nước của một lưu vực sông quốc tế, như Hội luật quốc tế nhận xét "lưu vực nguồn nước là một đơn vị thủy văn không thể chia cắt được đòi hỏi phải xem xét toàn diện nhằm mục đích sử dụng tối đa và phát triển bất kỳ phần nào của nguồn nước" [6]. Cách tiếp cận tổng thể theo lưu vực đã được ủng hộ trong các tuyên bố của các hội nghị quốc tế như Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường con người năm 1972, Hội nghị của Liên hợp quốc về nước tại Mar del Plata năm 1977. Chính đó là cơ sở quan trọng để Hội luật quốc tế đưa ra Các quy tắc Montreal sau này [54].

Tuy nhiên, vì một số lý do, khái niệm lưu vực sông quốc tế gặp phải sự chống đối trong các cuộc thảo luận cả ở Ủy ban luật quốc tế và Ủy ban pháp lý của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Người ta lo ngại là "lưu vực sông quốc tế" có thể ám chỉ một cách tiếp cận quá lý thuyết đối với tất cả các nguồn nước quốc tế bất chấp các đặc điểm và một loạt các hoàn cảnh cụ thể của mỗi trường hợp. Tương tự như vậy, người ta lo ngại rằng khái niệm lưu vực sông quốc tế quá nhấn mạnh đến các vùng đất trong lưu vực, và sợ rằng các vùng đất này của lưu vực cũng có thể bị điều chỉnh bởi luật về các nguồn nước quốc tế [46]. Theo khoản 1 Điều 1 Công ước Helsinki năm 1992 về bảo vệ và sử dụng các nguồn nước xuyên biên giới và các hồ quốc tế (sau đây gọi tắt là Công ước Helsinki 1992): "Các nguồn nước xuyên biên giới được hiểu là bất kỳ nguồn nước mặt hay nước ngầm nào có một phần, chảy ngang hoặc nằm trên biên giới giữa hai hay nhiều quốc gia".

Khái niệm này khá rộng, đối tượng áp dụng trong phạm vi Công ước bao gồm không chỉ nước mặt, nước ngầm, mà cả túi nước ngầm và không nhắc đến phần lãnh thổ lưu vực sông của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, mặc dù Công ước cho phép các nước không phải là thành viên Ủy ban 8 kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc (UNECE) tham gia, nhưng đến nay, chưa có nước nào không phải là thành viên UNECE gia nhập. Điều này dẫn tới việc sử dụng khái niệm "nguồn nước xuyên biên giới" theo Công ước Helsinki 1992 như khái niệm cho "nguồn nước quốc tế" chưa mang tính phổ quát quốc tế. Khái niệm nguồn nước quốc tế lần đầu tiên được Ủy ban Luật quốc tế của Liên hợp quốc đưa vào Dự thảo Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tế vào mục đích phi giao thông và chính thức được ghi nhận trong Công ước của Liên hợp quốc về luật sử dụng các nguồn nước quốc tế vào các mục đích phí giao thông được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1997 (dưới đây được gọi tắt là Công ước New York năm 1997).

Theo Điều 2a của Công ước New York năm 1997 thì "nguồn nước là một hệ thống nước mặt và nước ngầm, kết nối thành một thể thống nhất và thường chảy vào một điểm cuối chung trên cơ sở các mối quan hệ kết nối tự nhiên của chúng" và "nguồn nước liên quốc gia" là một nguồn nước có các phần nằm trên các quốc gia khác nhau (2b). Khác với Công ước New York năm 1997, trong Hiệp định hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông (viết tắt là Hiệp định Mê Kông) không nói về khái niệm "nguồn nước" mà khái niệm "lưu vực" được nói đến trong toàn bộ nội dung Hiệp định. Hiệp định dùng thuật ngữ này ở các ngữ cảnh khác nhau, thường dùng nhất là "lưu vực" Mê Kông, cũng như các thuật ngữ "lưu vực sông", "cấp lưu vực", "toàn lưu vực", "hệ thống sông" nhưng lại không định nghĩa về thuật ngữ này [13]. Công ước New York năm 1997 có phạm vi rộng hơn Hiệp định Mê Kông 1995 cả về mặt địa lý và chức năng.

Công ước New York năm 1997 đề cập cả nước mặt, nước ngầm như một thể thống nhất và áp dụng một "phương pháp tổng thể và kết nối trong quản lý nước" kết hợp tài nguyên nước dưới đất có mối liên hệ với nhau và gây ảnh hưởng tới dòng chày mặt và các môi trường trên mặt đất. Hơn nữa, Công ước New York năm 1997 không phân biệt dòng chính và dòng nhánh mà điều chỉnh chúng về mặt pháp lý như nhau. Trong khi 9 đó, Hiệp định Mê Kông 1995 lại không nhắc gì đến nước dưới đất trong văn bản Hiệp định. Hiệp định Mê Kông 1995 cũng đưa vào một số định nghĩa nhất định và các dạng sử dụng nước dự kiến liên quan tới chuyển nước dòng chính ra ngoài lưu vực trong mùa mưa; không đưa vào các loại sử dụng nước cho sinh hoạt và quy mô nhỏ không gây ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy dòng chính và bỏ qua dòng nhánh.

Điều đó là đặc biệt có ý nghĩa đối với việc quản trị một nguồn nước và cả một lưu vực bởi vì lời văn của Hiệp định phân biệt dòng chính và dòng nhánh theo các mục đích quản lý mà thiếu các nguyên tắc pháp lý và cơ chế cụ thể để điều chỉnh việc phát triển nguồn nước trên các dòng nhánh. Cả trong Công ước New York năm 1997 và Hiệp định Mê Kông 1995 đều không nhắc tới định nghĩa "nguồn sông quốc tế" và chưa có bất kỳ văn bản, nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa thế nào là "nguồn sông quốc tế". Ngoài ra, tác giả Trần Điệp Thành trong cuốn luận văn Khuôn khổ pháp lý quốc tế đảm bảo sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc khai thác và sử dụng công bằng tài nguyên nước lưu vực sông Mê Kông [25] đã đưa ra định nghĩa "sông quốc tế" không chỉ là những sông chảy qua lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia nhất định mà còn bao gồm các sông có nguồn nước ngầm chảy từ quốc gia khác chảy vào. Tác giả trong ấn phẩm Quản lý nguồn nước xuyên biên giới - Chia sẻ của IUCN đã viết: Thuật ngữ về các nguồn nước xuyên biên giới.

Thuật ngữ có thể gây tranh cãi. Thuật ngữ "các dòng sông quốc tế" để chỉ nước chảy trong lòng dẫn của con sông (thuật ngữ nguồn nước thường được sử dụng cho mục đích này), hoặc cho toàn bộ hệ thống thu nước mặt và/hoặc nước ngầm có liên quan. Thuật ngữ "lưu vực sông quốc tế" thường được dùng để chỉ dòng chảy nước mặt, nước ngầm, nước mưa và nước trong đất trong một lưu vực. Trong luật hàng hải, thuật ngữ "vùng nước quốc tế" là thuật ngữ pháp lý chỉ các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, trong khi được sử dụng để mô tả lưu vực sông được chia sẻ, nó có thể có ý nghĩa giống như "con sông 10 quốc tế".

Do đó, chúng ta sử dụng thuật ngữ các nguồn nước xuyên biên giới và nguồn nước chia sẻ một cách linh hoạt để chỉ nước ngọt (nước bề mặt và nước ngầm) chảy qua biên giới quốc gia hoặc qua ranh giới nhiều địa phương trong một quốc gia [3]. Kế thừa các quan điểm của Công ước New York năm 1997, trong luận văn này có thể hiểu "nguồn sông quốc tế" là nội hàm của "nguồn nước quốc tế" bởi nó là một trong những yếu tố cơ bản tạo thành nguồn nước quốc tế. Trong bài viết này, nguồn sông quốc tế được tác giả định nghĩa là một hệ thống nước mặt và nước ngầm, kết nối thành một thể thống nhất và thường chảy vào một điểm cuối chung trên cơ sở các mối quan hệ kết nối tự nhiên của chúng mà các phần này nằm trên các quốc gia khác nhau. Công ước New York năm 1997 được xây dựng như một hiệp ước khung để hỗ trợ các hiệp ước về nguồn nước khác thông qua việc cung cấp một mẫu hình và bổ sung những khoảng trống thiếu hụt mà các hiệp ước khác chưa bào trùm tới [14].

Tác giả đã kế thừa quan điểm của Công ước New York năm 1997 để đưa ra định nghĩa "nguồn sông quốc tế".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Đỗ Như Quỳnh (2017), Pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế. Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
APA 7
Đỗ, N. Q. (2017). Pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế. Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam [Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/lv-ths-luat-hoc-phap-luat-ve-su-dung-cac-nguon-song-quoc-te-thuc-trang-va-giai-phap-tai-viet-nam/9387636863
IEEE
N. Q. Đỗ, "Pháp luật về sử dụng các nguồn sông quốc tế. Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam," Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/lv-ths-luat-hoc-phap-luat-ve-su-dung-cac-nguon-song-quoc-te-thuc-trang-va-giai-phap-tai-viet-nam/9387636863

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác