CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ 1. Khái niệm làng nghề Quan niệm thứ nhất: làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Nhưng với quan niệm như vậy thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều.
Quan niệm thứ hai: làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều khi cũng là người làm nghề nông. Nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác. Quan niệm về làng nghề như vậy là chưa đủ, điều đó nói lên rằng không phải bất cứ làng nào có vài ba lò rèn hay vài ba gia đình làm nghề mộc, nghề dệt … đều là làng nghề.
Để xác định đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét tỷ trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so với tổng thu nhập của làng. Quan niệm thứ ba: làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, theo kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề. Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế TTCN có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội một cách tích cực. Từ cách tiếp cận trên cho thấy quan niệm về làng nghề liên quan đến các nghề thủ công cụ thể.
Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, khảm trai, kim hoàn, dệt vải, dệt tơ lụa, … Trước đây, quan niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, ngày nay, khi mà trên thế giới khu vực dịch vụ đóng vai trò quan trọng và trở thành lĩnh vực chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng, thì các nghề dịch vụ trong nông thôn cũng xếp vào các làng nghề. Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng một nghề và làng nhiều nghề, tuỳ theo số lượng ngành nghề thủ công và dịch vụ có ưu thế trong làng. Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộ không đáng kể. Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều 5 Luan van nghề có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau.
Trong nông thôn Việt Nam trước đây loại làng một nghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh. Từ các quan niệm trên đây, có thể khái quát về khái niệm làng nghề như sau: Làng nghề được hiểu là “một địa bàn hay khu vực dân cư sinh sống trong một làng (thôn, tương đương thôn) có hoạt động cùng ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng; có sử dụng nguồn lực trong và ngoài địa phương, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong làng”. Làng nghề truyền thống: Các làng nghề truyền thống có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, tồn tại cho đến nay. Tuy nhiên, vẫn chưa có một khái niệm chính thống: - Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, được cư trú giới hạn trong một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi.
Quan niệm này mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, còn những làng nghề mới, nhưng tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực chưa được đề cập đến. - Quan niệm thứ hai: LNTT là những làng nghề làm thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ. Quan niệm này cũng chưa đầy đủ. Bởi vì khi nói đến LNTT ta không thể chú ý tới các mặt đơn lẻ, mà chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật.
- Quan niệm thứ ba: LNTT là những làng có tuyệt đại dân số làm nghề cổ truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối, hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài ba và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề. Đồng thời, sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hoá dân tộc.
Thu nhập từ nghề chiếm tỷ trọng 60% trở lên trong tổng thu nhập của gia đình và giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% giá trị của địa phương (thôn, làng). Như vậy có thể nói: làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, được cư trú giới hạn trong một địa bàn tại các vùng nông thô, tách rời khỏi sản xuất nông 6 Luan van nghiệp, cùng làm một hay nhiều nghề thủ công có tính truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi nhuận. Những làng nghề truyền thống lâu đời, nổi tiếng trước đây, nhưng hiện nay phát triển cầm chừng, không ổn định, gặp nhiều khó khăn, thậm chí có những làng nghề đã và đang mai mọt cũng được coi là làng nghề truyền thống. Tiêu chí công nhận làng nghề - Hai tiêu chí cơ bản phản ánh quy mô hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp là giá trị sản xuất và lao động làm nghề.
Ngành nghề phi nông nghiệp gắn liền với làng nên phải tính tỷ lệ lao động hay số hộ và thu nhập từ làm nghề làm nghề trong tổng số lao động (hay tổng số hộ) và trong tổng số thu nhập của làng. - Đối với loại ngành nghề khác nhau thì tỷ lệ lao động làm nghề cũng khác nhau, song với làng nghề truyền thống theo điều tra của Bộ Lao động Thương binh Xã hội tỷ lệ này thấp nhất là 30 - 35 %. Theo bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỷ lệ này phải chiếm 30% trở lên. - Về thu nhập từ làm nghề, hầu hết các nghiên cứu để cho rằng thu nhập từ ngành nghề phi nông nghiệp cần phải chiếm ít nhất 50% tổng thu nhập của làng mới đạt tiêu chuẩn làng nghề.
- Làng nghề được công nhận ( theo thông tư 116/2006/TT – BNN) của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phải đạt 3 tiêu chí sau: + Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. + Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận + Chấp hành tốt chính sách và pháp luật của nhà nước. Như vậy, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có những tiêu chí cụ thể sau: - Làng đó phải có nghề mang tính đặc thù, có một số người (hay nhóm người) giỏi nghề. Những sản phẩm sản xuất ra phải có tính đặc thù riêng của làng đó.
- Phải có một hay một nhóm người giỏi nghề làm hạt nhân để phát triển một nghề nào đó. - Phải tìm được nguồn nguyên liệu ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất của làng. - Phải lựa chọn được một mặt hàng nào đó đáp ứng với nhu cầu thị trường và phù hợp với điều kiện sản xuất của làng. 7 Luan van - Phải có số vốn ban đầu để mua nguyên liệu và chuẩn bị các điều kiện cho sản xuất.
- Làng phải có cơ sở vật chất, hạ tầng nhất định. - Giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng trên 70% tổng giá trị sản xuất của làng. - Số lao động làm nghề (ở độ tuổi lao động) là trên 30% so với tổng số lao động của làng. Phân loại làng nghề Việc phân loại làng nghề gặp những khó khăn bởi tính đa dạng và quy mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành; tùy theo các tiêu chí khác nhau sẽ có cách phân loại là ngày khác nhau: 1.
Theo lịch sử hình thành và phát triển làng nghề - Làng nghề truyền thống: xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử từ hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa và tồn tại cho đến hiện nay. - Làng nghề mới: là làng nghề xuất hiện do sự phát triển, lan tỏa của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, là kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Theo sản lượng nghề - Làng một nghề: ngoài nghề nông chỉ có thêm một nghề phi nông nghiệp xuất hiện, tồn tại và chiếm ưu thế tuyệt đối. - Làng nhiều nghề: là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỉ trong chiếm ưu thế gần như tương đương nhau.
Loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển nhanh. Theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm - Làng nghề thủ công: làm ra các mặt hàng sử dụng thường nhập như mây tre đan, dao, kéo,chiếu,… sản xuất thủ công bằng tay và các dụng cụ đơn giản - Là nghề thủ công mỹ nghệ như: sản xuất các mặt hàng có giá trị văn hóa trang trí như đồ khảm, chạm khắc và đồ mỹ nghệ như thêu ren, dệt thảm, giác vàng bạc,… - Làng nghề công nghiệp tiêu dùng: sản xuất các mặt hàng bán thành sản phẩm như mặt hàng sản xuất giấy, dệt, may mặc gốm sứ, tái chế nhựa, kim loại, thuộc gia,… - Làng nghề chế biến lương thực - thực phẩm: chế biến các loại nông sản như xay xát, sản xuất bún, nấu rượu,… 8 Luan van - Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng như: sản xuất các vật liệu xây dựng như gạch, ngói, vôi, cát,… - Làng nghề buôn bán dịch vụ như: chuyên buôn bán lẻ, cung cấp các dịch vụ liên quan.