Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp thuộc ngành Du lịch (chuyên ngành Địa lý Du lịch / Quản trị Du lịch và Lữ hành), thực hiện nghiên cứu thực tiễn về việc đánh giá tiềm năng tài nguyên và thực trạng khai thác du lịch tại một điểm đến cụ thể ở địa phương.

  • Lý do chọn đề tài: Tác giả xuất phát từ nhận định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, tạo nguồn thu ngoại tệ và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động trực tiếp cùng hàng triệu lao động gián tiếp. Quần thể danh thắng và di tích lịch sử Núi Voi (huyện An Lão, thành phố Hải Phòng) sở hữu cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, lưu giữ các di chỉ khảo cổ học thời kỳ văn hóa Đông Sơn cùng hệ thống di tích qua các giai đoạn lịch sử (thời Hai Bà Trưng, nhà Mạc, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ). Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng. Là người sinh ra tại địa phương, tác giả thực hiện đề tài nhằm tìm hiểu nguồn tài nguyên và đề xuất giải pháp phát triển Núi Voi thành điểm du lịch hấp dẫn.
  • Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu tài nguyên du lịch khu di tích - danh thắng Núi Voi và đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch đến khu di tích trong thời gian tới.
  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ tài nguyên du lịch chủ yếu và các điều kiện phát triển khu di tích - danh thắng Núi Voi thành điểm du lịch.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Quần thể di tích - danh thắng Núi Voi trải rộng trên diện tích gần 300 ha thuộc địa bàn 3 xã Trường Thành, An Tiến và An Thắng (huyện An Lão, thành phố Hải Phòng).
    • Thời gian và dữ liệu: Tập trung phân tích các mốc khảo sát, tiến trình đầu tư hạ tầng từ năm 1996 đến năm 2009, cùng số liệu thống kê hoạt động du lịch, lễ hội giai đoạn 2007–2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Tác giả xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình học thuật chuyên ngành du lịch:

  • Luật Du lịch Việt Nam năm 2005:
    • Điều 4: Định nghĩa tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch.
    • Khoản 4 Điều 4: Định nghĩa khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi với mục đích học tập, làm việc hay sinh lợi.
  • Hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo chuyên ngành:
    • Quan điểm về tài nguyên du lịch và địa lý du lịch của PGS. Nguyễn Minh Tuệ.
    • Giáo trình Bài giảng Địa lý du lịch và Nhập môn khoa học du lịch của PGS. TS. Trần Đức Thanh.
    • Đề tài Tài nguyên du lịch Bắc Ninh với sự phát triển du lịch bền vững của ThS. Bùi Thị Hải Yến.
    • Giáo trình Kinh tế du lịch (Nhà xuất bản Kinh tế Quốc dân, 2005).
  • Khung phân loại tài nguyên du lịch:
    • Tài nguyên du lịch tự nhiên: Địa hình (đồng bằng, miền núi, đồi, địa hình karst hang động, bờ bãi biển), khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, bức xạ), tài nguyên nước (nước mặt và nguồn nước ngầm/nước khoáng), tài nguyên sinh vật (vườn quốc gia, khu bảo tồn, hệ sinh thái đặc thù).
    • Tài nguyên du lịch nhân văn: Tài nguyên vật thể (di tích khảo cổ học, di tích lịch sử - văn hóa, di tích văn hóa nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, bảo tàng, ẩm thực) và tài nguyên vô thể/phi vật thể (lễ hội dân gian với cấu trúc phần lễ - phần hội, làng nghề thủ công truyền thống, phong tục tập quán, nghệ thuật diễn xướng).
    • Cơ chế tâm lý tiếp nhận tài nguyên nhân văn: Chia thành 4 giai đoạn gồm Thông tin $\rightarrow$ Tiếp xúc $\rightarrow$ Nhận thức $\rightarrow$ Đánh giá, nhận xét.
  • Hệ thống các nhân tố ảnh hưởng và xu hướng phát triển:
    • Nhân tố khách quan: Tài nguyên, địa hình, khí hậu, sinh vật, nguồn nước, dân cư - lao động, an ninh chính trị - an toàn xã hội, điều kiện kinh tế, ý thức cộng đồng.
    • Nhân tố chủ quan: Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, công tác marketing - xúc tiến du lịch, chính sách quản lý nhà nước.
    • Xu hướng phát triển: Gia tăng về số lượng khách, xã hội hóa thành phần du khách, mở rộng địa bàn du lịch (luồng khách Đông - Tây, vùng núi tuyết), kéo dài thời vụ du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản: Thu thập, tổng hợp các tư liệu lịch sử, sách chuyên khảo, biên niên sử giáo dục, số liệu điều tra dân số và báo cáo quản lý nhà nước.
  • Phương pháp hệ thống: Phân tích, tổng hợp và đánh giá tổng thể các yếu tố cấu thành không gian lãnh thổ du lịch.
  • Phương pháp điền dã: Tiếp xúc trực tiếp, khảo sát thực địa tại điểm di tích; trao đổi, phỏng vấn các cán bộ quản lý, người phụ trách và nhân chứng am hiểu về khu di tích Núi Voi.
  • Phương pháp đối chiếu, so sánh: So sánh đặc trưng của các di tích, giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm xác định nét đặc thù của điểm đến.

Nguồn dữ liệu

  • Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050.
  • Kết quả Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009 tại thành phố Hải Phòng.
  • Số liệu thống kê, báo cáo quản lý từ UBND huyện An Lão, UBND xã An Tiến và Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện An Lão.
  • Tư liệu khảo cổ học của Viện Viễn Đông Bác Cổ (khai quật năm 1930) và Bảo tàng Hải Phòng.
  • Biên niên sử ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng; tư liệu thơ văn khuyết danh dân gian lưu trữ tại Phòng Văn hóa huyện An Lão.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận chung về tài nguyên du lịch, khách du lịch, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách đến khu du lịch, xu hướng phát triển du lịch hiện nay

Chương I hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về kinh tế và địa lý du lịch:

  • Bản chất và đặc điểm của tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là tiền đề hình thành sản phẩm du lịch, quyết định việc tổ chức không gian lãnh thổ du lịch. Tác giả chỉ ra 7 đặc điểm cơ bản:
    1. Khả năng tái tạo: Khách trực tiếp đến điểm đến để cảm nhận giá trị mà không làm mất đi giá trị ban đầu nếu được quản lý tốt.
    2. Tính đa dạng và dùng chung: Có thể đồng thời là tài nguyên của các ngành kinh tế khác, dễ dẫn đến xung đột quản lý.
    3. Là thành phần cơ bản tạo nên sản phẩm du lịch: Định hình tính chất của các dịch vụ đặc trưng.
    4. Tính sở hữu chung: Mọi công dân và doanh nghiệp đều có quyền tiếp cận và khai thác hợp pháp.
    5. Gắn liền với vị trí địa lý: Hàng hóa du lịch không thể di dời, khách bắt buộc phải di chuyển đến nơi có tài nguyên.
    6. Tính mùa vụ rõ rệt: Chịu sự chi phối trực tiếp của điều kiện khí hậu và tập quán sinh hoạt (như mùa lễ hội đầu năm).
    7. Giá trị phụ thuộc vào yếu tố chủ quan: Phụ thuộc vào công tác trùng tu, nghệ thuật diễn giải của hướng dẫn viên và trình độ nhận thức của du khách.
  • Phân loại tài nguyên du lịch: Trình bày chi tiết hai nhóm tài nguyên tự nhiên (địa hình, khí hậu, tài nguyên nước, sinh vật) và tài nguyên nhân văn (di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội truyền thống, làng nghề, phong tục).
  • Các nhân tố ảnh hưởng và xu thế phát triển: Xác định vai trò của các nhóm nhân tố khách quan, nhân tố chủ quan; phân tích 4 xu hướng vận động của ngành du lịch thế giới và Việt Nam hiện đại.

Chương II: Tài nguyên du lịch và thực trạng khai thác du lịch tại khu di tích - danh thắng Núi Voi

Chương II tập trung khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phương, phân tích chi tiết tài nguyên và đánh giá thực trạng khai thác tại Núi Voi:

  • Khái quát địa bàn nghiên cứu:
    • Thành phố Hải Phòng: Trung tâm kinh tế duyên hải Bắc Bộ. Theo số liệu điều tra ngày 01/04/2009, dân số đạt 1.837.302 người (trong đó dân số thành thị là 847.058 người chiếm 46,1%, dân số nông thôn là 990.244 người chiếm 53,9%), gồm 15 quận/huyện (70 phường, 10 thị trấn, 147 xã). Địa hình đồi núi chiếm 15% diện tích ở phía bắc.
    • Huyện An Lão: Nằm ở phía tây nam Hải Phòng, cách trung tâm thành phố 18 km; diện tích tự nhiên 110,85 km² (chiếm 7,4% diện tích thành phố), gồm 17 đơn vị hành chính (2 thị trấn: An Lão, Trường Sơn; 15 xã). Hệ thống sông ngòi gồm sông Lạch Tray (rộng 186–200 m), sông Văn Úc (dài 23 km, rộng 500–800 m) và sông Đa Độ (dài 33 km, rộng 80–120 m). Mạng lưới giao thông có Quốc lộ 10 chạy qua dài 20 km; 94,5% đường liên thôn/xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 17/17 xã, thị trấn có điện lưới quốc gia 110 kV.
  • Tài nguyên khu di tích - danh thắng Núi Voi:
    • Đặc điểm địa chất và cảnh quan: Là quần thể núi đá vôi và núi đất rộng gần 300 ha trên địa phận 3 xã Trường Thành, An Tiến, An Thắng. Vết tích vỏ sò, hến bám trên vách đá ở độ cao 5–10 m minh chứng cho nguồn gốc biển thoái hàng triệu năm trước.
    • Giá trị khảo cổ học: Năm 1930, Viện Viễn Đông Bác Cổ khai quật tại các hang động Núi Voi, tìm thấy công cụ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, sọ người hóa thạch thời đại Hùng Vương niên đại khoảng 2.500–3.000 năm thuộc văn hóa Đông Sơn. Vùng đất này xưa là trung tâm huyện Câu Lậu, nơi có khoáng sản Đơn Sa Trọng (chứa thủy ngân).
    • Giá trị lịch sử qua các thời kỳ: Căn cứ tích lương, luyện quân của Nữ tướng Lê Chân thời Hai Bà Trưng; căn cứ tiền tiêu bảo vệ cửa ngõ Dương Kinh của vương triều nhà Mạc thế kỷ XVI (dấu tích hang Chạn, Đấu đong quân, kênh nhà Mạc, cung công chúa); căn cứ khởi nghĩa chống Pháp của Lãnh Tư, Cử Bình; căn cứ du kích trong kháng chiến chống Pháp (gắn với tấm gương liệt sĩ Ôn Văn Vị hy sinh năm 1953 tại hang Già Vị); trận địa phòng không của trung đội 29 nữ dân quân bắn rơi máy bay phản lực Mỹ; hang Thành ủy – nơi tổ chức Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ hai vào cuối năm 1968.
Tên điểm đến / Di tích Loại hình Đặc điểm lịch sử, văn hóa và kiến trúc nổi bật
Lễ hội Núi Voi Di sản văn hóa phi vật thể Tổ chức thường niên vào ngày 14, 15, 16 tháng Giêng. Bắt đầu bằng lễ tế tại đền thờ Lê Chân và đình Chi Lai; tổ chức các trò chơi dân gian (đập niêu, cờ tướng, chọi gà), thi đấu bóng chuyền, đấu vật tự do (năm 2010 có 75 đô vật tham gia 18 hạng cân), biểu diễn chèo, cải lương, múa rối Minh Tân - Bảo Hà.
Chùa Bụt Mọc (Phật tích tự) Di tích kiến trúc tôn giáo Tọa lạc tại chân núi Tiên Hội. Nguyên là ngôi chùa 3 gian đơn sơ bên khối đá hình tượng Phật; tháng Giêng năm Nhâm Thìn thời vua Minh Mạng, Tri huyện Nguyễn Duy Thanh đã công đức xây dựng lại theo kiểu chữ Đinh (2 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, 2 gian ống muống). Nơi đây lưu giữ một số tượng Phật của chùa Long Hoa cũ.
Chùa Long Hoa Di tích lịch sử tôn giáo Khởi dựng từ thời Lý - Trần (cùng thời tháp Tường Long - Đồ Sơn) bởi Thiền sư Non Đông thuộc Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi; được công chúa Chiêu Chinh (con gái vua Trần Thánh Tông) đứng ra đại trùng tu vào thế kỷ XIII. Giai đoạn 1989–2000, các cơ quan khảo cổ đã phát hiện chân tảng đá kê cột và dấu tích móng chùa.
Đền Hang Di tích lịch sử tâm linh Tọa lạc tại Mã Yên Sơn, phối thờ Phật và Nữ tướng Lê Chân (được vua Thành Thái sắc phong "Hoàng bà long hội đại vương Lê Chân trung đẳng thần"). Trước cửa đền có 4 chữ "Thánh mẫu linh từ"; hai bên có động Nam Tào, Bắc Đẩu (hang Chuông, hang Trống phát ra âm thanh khi gõ vào vách đá).
Hang Họng Voi Thắng cảnh hang động Hang tự nhiên hình cổ họng voi; bên trong có cảnh Thiên đình với hệ thống nhũ đá, có Cổng trời và Giếng Tiên gắn liền với truyền thuyết dân gian.
Hang Già Vị Thắng cảnh và di tích lịch sử Đặt tên theo liệt sĩ du kích Ôn Văn Vị (người canh gác, báo động và hy sinh năm 1953). Hang có nhiều thạch nhũ và là nơi phát hiện các công cụ lao động bằng đá, đồng của người cổ.
Đình - Chùa Chi Lai Quần thể di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Chi Lai nằm bên sườn non nhìn ra sông Lạch Tray, thờ đức Cao Sơn đại vương (tướng của Hùng Duệ Vương). Ngày 29/09/1959, đồng chí Trường Chinh đã về thăm và lưu lại bút tích. Chùa Chi Lai (Phúc Lai tự) nằm kế bên, còn lưu dấu gạch ngói, phù điêu rồng thời Trần.
  • Đánh giá thực trạng khai thác du lịch tại Núi Voi:
    • Khách du lịch: Năm 2007 đạt khoảng 70.000 lượt khách (trong đó khách nội địa chiếm 90%, khách quốc tế chiếm 10%). Du khách chủ yếu là người dân địa phương và các tỉnh lân cận, tập trung vào dịp lễ hội tháng Giêng hoặc tham quan cuối tuần, thời gian lưu trú ngắn (đi về trong ngày), mức độ sử dụng dịch vụ thấp.
    • Doanh thu du lịch: Rất thấp do thiếu dịch vụ bổ trợ. Doanh thu mùa lễ hội Núi Voi năm 2010 của xã An Tiến đạt 180 triệu đồng; nguồn thu từ hòm công đức đạt trên 10 triệu đồng.
    • Cơ sở hạ tầng và kỹ thuật: Các tuyến đường vào khu di tích đã được trải nhựa; hoàn thành hệ thống bậc thang lên núi, trạm điện và nhà máy nước Chi Lai. Cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống tập trung chủ yếu tại thị trấn An Lão (cách 2–3 km), tại di tích hầu như chưa có cơ sở lưu trú đạt chuẩn.
    • Công tác quản lý và xúc tiến: Ban quản lý khu di tích - danh thắng Núi Voi bị giải thể từ năm 2004, chuyển giao quyền quản lý phân tán cho 3 đơn vị: UBND xã Trường Thành và An Tiến (quản lý lễ hội), Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện An Lão (quản lý quy hoạch, xây dựng) và nhân viên Bảo tàng Núi Voi (quản lý thuyết minh, giới thiệu). Sự phân tán này dẫn đến việc thiếu định hướng phát triển du lịch tập trung; hoạt động dịch vụ phát triển tự phát; công tác quảng bá trên truyền thông và Internet còn mờ nhạt.

Chương III: Giải pháp thu hút khách du lịch đến khu di tích - danh thắng Núi Voi

Chương III đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả khai thác điểm đến:

  • Định hướng và mục tiêu phát triển: Xác định rõ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện An Lão và thành phố Hải Phòng, định hướng xây dựng Núi Voi thành khu du lịch sinh thái - văn hóa - tâm linh trọng điểm của vùng ven đô.
  • 7 nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện công tác quy hoạch: Quy hoạch chi tiết phân khu chức năng (khu bảo tồn di tích, khu tham quan thắng cảnh, khu dịch vụ - vui chơi giải trí, bãi đỗ xe).
    2. Đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật và tôn tạo di tích: Tiếp tục nâng cấp hệ thống giao thông kết nối; đầu tư cơ sở lưu trú, nhà hàng; bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái; thực hiện dự án xây dựng đền thờ Nữ tướng Lê Chân và phục dựng chùa Long Hoa.
    3. Đa dạng hóa và xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù: Kết hợp du lịch tâm linh, tham quan nghiên cứu lịch sử - khảo cổ học với du lịch sinh thái, leo núi; liên kết hình thành các tuyến du lịch nội tỉnh kết nối Núi Voi với trung tâm thành phố Hải Phòng, Đồ Sơn, Cát Bà và các tỉnh lân cận dọc Quốc lộ 10 (Quảng Ninh, Thái Bình).
    4. Tăng cường xúc tiến, quảng bá: Xây dựng trang thông tin điện tử, phát hành ấn phẩm giới thiệu di tích, phối hợp với các cơ quan truyền thông và doanh nghiệp lữ hành để quảng bá hình ảnh Núi Voi.
    5. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên, thuyết minh viên tại điểm, nâng cao kỹ năng giao tiếp và quản lý dịch vụ cho đội ngũ nhân viên.
    6. Nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương: Tuyên truyền, giáo dục người dân địa phương tham gia giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ di tích, phát huy ứng xử văn minh và tham gia làm dịch vụ du lịch cộng đồng.
    7. Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch: Đề xuất tái lập Ban Quản lý chuyên trách khu di tích - danh thắng Núi Voi trực thuộc UBND huyện An Lão để thống nhất chỉ đạo công tác bảo tồn, đầu tư và kinh doanh dịch vụ du lịch.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu trong văn bản

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống dữ liệu thực tế về các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu di tích Núi Voi qua các giai đoạn:

Giai đoạn thực hiện Hạng mục công trình Vốn đầu tư thực hiện
Năm 1996 Xây dựng tuyến đường vào khu di tích Hơn 1 tỷ đồng
Năm 1996 Xây dựng Nhà máy nước Chi Lai Hơn 400 triệu đồng
Năm 1997 Tuyến đường từ trạm xá vào khu di tích Khoảng 500 triệu đồng
Năm 1997 – 1998 Xây dựng hệ thống đường bậc thang lên núi Khoảng 400 triệu đồng
Năm 1999 – 2000 Tuyến đường khu Chi Lai (từ chân núi lên đỉnh núi) Khoảng 350 triệu đồng
Năm 2000 Xây dựng Nhà bảo tàng và khu sân vườn Khoảng 700 triệu đồng
Năm 2001 – 2002 Tuyến đường dẫn từ Quốc lộ 10 vào di tích Khoảng 800 triệu đồng
Năm 2008 – 2009 Cải tạo, làm mới 7 m vỉa hè đường dài gần 2.000 m Ghi nhận hoàn thành
Năm 2009 – 2010 Dự án xây dựng Đền thờ Nữ tướng Lê Chân Khoảng 11 tỷ đồng

Về mặt kinh tế - xã hội, văn bản ghi nhận quy mô khách năm 2007 đạt 70.000 lượt (tỷ lệ 9:1 giữa khách nội địa và quốc tế); doanh thu lễ hội năm 2010 đạt 180 triệu đồng cùng trên 10 triệu đồng tiền công đức.

Đóng góp của khóa luận

  • Hệ thống hóa toàn diện các giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên (hang động karst, cảnh quan sông núi) và nhân văn (khảo cổ học Đông Sơn, dấu tích nhà Mạc, di tích kháng chiến, tín ngưỡng chùa - đền - đình) của Núi Voi.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn then chốt trong mô hình tổ chức sau khi giải thể Ban Quản lý năm 2004, làm cơ sở khoa học để đề xuất tái lập cơ quan quản lý tập trung và xây dựng các sản phẩm du lịch liên kết vùng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các số liệu thứ cấp và số liệu ước tính từ chính quyền địa phương; chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn bằng bảng hỏi về hành vi chi tiêu hay mức độ thỏa mãn của du khách; chưa đánh giá sâu sức chứa môi trường sinh thái của khu danh thắng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu nghiên cứu phương án bảo tồn và phục dựng chi tiết di tích khảo cổ chùa Long Hoa; khảo sát thiết kế các chương trình du lịch chuyên đề (du lịch học đường, du lịch về nguồn, du lịch sinh thái mạo hiểm); nghiên cứu giải pháp liên kết tour du lịch di sản giữa Hải Phòng - Quảng Ninh - Hải Dương qua trục Quốc lộ 10.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên ngành Du lịch, Địa lý kinh tế, Quản lý văn hóa, Lịch sử - Bảo tàng; cán bộ quản lý văn hóa - du lịch tại huyện An Lão và thành phố Hải Phòng; các doanh nghiệp lữ hành đang khai thác tuyến điểm du lịch khu vực Duyên hải Bắc Bộ.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng tổng hợp tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và hệ thống di tích khảo cổ học tại quần thể Núi Voi (Chương II).
    • Mô hình phân tích thực trạng quản lý nhà nước và dữ liệu thống kê các dự án hạ tầng giai đoạn 1996–2009 (Chương II).
    • Bộ giải pháp 7 nhóm mang tính ứng dụng thực tiễn cho công tác quản trị điểm đến di tích cấp huyện (Chương III).

Câu hỏi thường gặp

1. Giá trị khảo cổ học nổi bật nhất tại khu danh thắng Núi Voi được xác định qua những hiện vật nào?

Năm 1930, Viện Viễn Đông Bác Cổ cùng nhân dân địa phương đã tiến hành khai quật trong các hang động tại Núi Voi, phát hiện nhiều công cụ lao động bằng đá, đồng, sắt và sọ người hóa thạch có niên đại cách ngày nay khoảng 2.500–3.000 năm, khẳng định nơi đây là địa bàn cư trú của người cổ thời kỳ văn hóa Đông Sơn (thời các vua Hùng).

2. Tên gọi hang Già Vị xuất phát từ sự kiện lịch sử nào?

Tên hang được đặt theo tên của liệt sĩ Ôn Văn Vị – một du kích cao tuổi phụ trách việc canh gác, đánh kẻng báo động trên đỉnh Núi Voi trong kháng chiến chống Pháp. Sau nhiều lần bám trụ hang động đánh trả các đợt càn quét của địch, ông đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến đấu ác liệt vào năm 1953.

3. Thực trạng cơ cấu khách và doanh thu du lịch tại Núi Voi được ghi nhận ra sao?

Theo số liệu ước tính của UBND huyện An Lão, lượng khách năm 2007 đạt 70.000 lượt (khách nội địa chiếm 90%, khách quốc tế chiếm 10%). Doanh thu từ du lịch rất thấp do khách chủ yếu đi về trong ngày vào dịp lễ hội đầu xuân; doanh thu mùa lễ hội năm 2010 của xã An Tiến ghi nhận đạt 180 triệu đồng và tiền công đức đạt trên 10 triệu đồng.

4. Bất cập lớn nhất trong mô hình tổ chức quản lý khu di tích Núi Voi giai đoạn sau năm 2004 là gì?

Năm 2004, Ban Quản lý khu di tích - danh thắng Núi Voi bị giải thể, chuyển sang cơ chế quản lý phân tán giữa 3 cơ quan: UBND xã Trường Thành và An Tiến (quản lý lễ hội), Ban Quản lý dự án xây dựng huyện An Lão (quản lý quy hoạch, xây dựng) và nhân viên Bảo tàng (thuyết minh di tích). Điều này dẫn đến tình trạng thiếu cơ quan chỉ đạo chuyên trách, dịch vụ phát triển tự phát và manh mún.

5. Những di tích tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu nào hiện diện tại quần thể Núi Voi?

Quần thể lưu giữ nhiều công trình tâm linh tiêu biểu: Chùa Bụt Mọc (Phật tích tự xây thời vua Minh Mạng); dấu tích nền móng Chùa Long Hoa (thời Lý - Trần do Thiền sư Non Đông sáng lập); Đền Hang thờ Nữ tướng Lê Chân (được vua Thành Thái sắc phong); Đình Chi Lai thờ đức Cao Sơn đại vương (bộ tướng thời Hùng Duệ Vương) và Chùa Chi Lai (Phúc Lai tự).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hoa đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch và các nhân tố thu hút du khách, đồng thời phác thảo bức tranh toàn diện về tiềm năng cảnh quan, khảo cổ và lịch sử của di tích danh thắng Núi Voi (Hải Phòng). Công trình phản ánh khách quan những hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn thu và bất cập trong cơ chế quản lý phân tán sau năm 2004. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện quy hoạch, tái lập cơ quan quản lý chuyên trách, đầu tư hạ tầng và phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cho công tác quản trị và phát triển du lịch địa phương.