Chương 1. Cơ sở lý luận về marketing dịch vụ và kinh doanh tổ chức sự kiện. Thực trạng hoạt động marketing của công ty cổ su kién D2 Events giai đoạn năm 2019 - 2021. Giải pháp hoàn thiện chính sách marketing tại công ty cỗ phân tổ chức sự kiện D2 Events.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Theo tác giả được biết, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu độc lập nào về chính sách marketing tại công ty cổ phần tổ chức sự kiện D2 Events. Tuy nhiên có công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách marketing như: Theo Abraham Trần (2015), “Bí mật thực sự của internet marketing”, NXB Thanh Niên. Nội dung của cuốn sách giải đáp thắc mắc cách một cá nhân, một tổ chức xây dựng thương hiệu, quảng cáo và bán hàng qua Internet như thế nào? Làm thế nào bạn quyết định hình thức tiếp thị trực tuyến nào. phù hợp với doanh nghiệp của bạn? Làm thế nào để triển khai kế hoạch marketing qua Internet với chỉ phí thấp nhất, lợi nhuận cao nhất? Theo Philip Kotler (2007), “Marketing cin bin”, NXB Lao Động Xã Hội.
Nội dung cuốn sách mô tả những tình huống thực tiễn, thể hiện tính chất của hoạt động Marketing hiện đại. Cuốn sách nêu dẫn chứng, các sự kiện quan trọng hay những cuộc xung đột từ thực tế trong lĩnh vực Marketing giúp người đọc hòa nhập được với nhịp sống của thế giới Marketing. Bai bao “A Review of Marketing Mix:4P or More?” năm 2009 của Chai Lee Goi. Nội dung của bải báo nghiên cứu việc sử dụng công cụ marketing hỗn hợp 4Ps đã là hợp lý hay chưa, liệu có cần thêm các công cụ khác.
Bài báo cũng đưa ra những góc nhìn nhiều chiều về việc sử dụng của hoạt động Marketing Mix 4Ps đồng thời đưa ra so sánh điểm yếu, điểm mạnh của hoạt động Marketing Mix 4Ps với Marketing Mix 7s. Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Bình (2015), “Hoàn thiện chính sách marketing tại chỉ nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Da Ning”, Dai hoc Đà Nẵng. Luận văn đã nêu rõ các khái niệm cũng như thực trạng chính sách marketing của chỉ nhánh ngân hàng trong hệ thống. Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp hơn trong chính sách marketing trong bối cảnh hiện nay.
Luận văn của thạc sĩ Võ Nhật Hiếu - ĐHKT - ĐHQG Hà Nội - “Hoạt động Marketing Mix tại công ty cổ phần nhựa Châu Âu” năm 2014. Luận văn đã khái quát được những cơ sở lý luận về hoạt động Marketing Mix. Nêu được thực trạng về hoạt động Marketing Mix trong công ty cổ phần nhựa Châu Âu và những đánh giá, phân tích về hoạt động Marketing Mix, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing Mix. Đồng thời luận văn đưa ra những.
đề xuất giải pháp khắc phục hoàn thiện hoạt động Marketing Mix. Tuy nhiên các giải pháp này chỉ ở mức độ khái quát chưa thực sự cụ thể, thiếu ý tưởng. mới và sự đột phá. Luận văn của thạc sĩ Chu Quang Hưng - ĐHKT - ĐHQGHN - “Chiến lược Marketing Mix của dịch vụ viễn thông di động tại chỉ nhánh Viettel Đà Ning tap đoàn Viễn Thông Quân Đội'"năm 2015.
Luận văn đã khái quát được cơ sở lý luận về chiến lược Marketing Mix và các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược Marketing Mix. Phát hiện ra những thành tựu và hạn chế trong chiến lược Marketing Mi của chỉ nhánh Viettel Đà Nẵng. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược Marketing Mix đã có của chỉ nhánh Viettel Đà Nẵng và bổ sung mới các chiến lược mà Viettel Đà Nẵng chưa có để giúp cho Chỉ nhánh Viettel Đà Nẵng đạt được các kế hoạch đặt ra, tăng trưởng được thuê bao và doanh thu giai đoạn 2015-2020. Luận văn của thạc sĩ Đoàn Mai Anh - ĐHKT - ĐHQGHN - “Marketing Mix cho thời trang công sở tại Công ty TNHH sản xuất, thương mại và đầu tư Tân Phát" năm 2015.
Đề tài làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động Marketing Mix cho sản phẩm thời trang. Từ đó, phân tích tình hình hoạt động Marketing Mix sản phẩm thời trang công sở tại công ty Tân Phát giai đoạn 2012- 2014, làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của công ty nhằm đề xuất giải pháp Marketing Mix phù hợp với chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận đã định trong thời gian tiếp theo. CO SO LY LUAN VE MARKETING DICH VU VA KINH DOANH TÔ CHỨC SỰ KIỆN 11. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VE DICH VU, MARKETING VA MARKETING DỊCH VỤ 1.
Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ a. Khái niệm về dịch vụ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ. Nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thống nhất dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp img nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Theo như nghĩa rộng, sản phẩm dịch vụ là một lĩnh vực kinh tế thứ 3 thuộc vào nền kinh tế quốc dân.
Nó bao gồm nhiều hoạt động về kinh tế bên ngoài 2 lĩnh vực chính đó là nông nghiệp và công nghiệp. Tuy nhiên theo nghĩa hẹp, sản phẩm dịch vụ lại là các hoạt động có ích của con người nhằm mang tới những sản phẩm không tồn tại được dưới dạng. hình thái vật chất và không dẫn tới việc sở hữu hay chuyển giao quyền sở hữu. Thế nhưng vẫn có thể đáp ứng được đầy đủ và nhanh chóng, văn minh những nhu cầu về sản xuất và đời sống trong xã hội.
Theo Philip Kotler: “dịch vụ là bắt kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bắt kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất địch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” Kotler và Armstrong định nghĩa “dịch vụ là một hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thẻ cung cắp cho bên khác về cơ bản là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì. Sản xuất của nó có thể có hoặc có thể không gắn với một sản phẩm vật chất”.
William Stanton, “dich vu là những hoạt động vô hình có thể nhận dạng riêng biệt, về cơ bản mang lại sự thỏa mãn mong muốn và không. nhất thiết phải với việc bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ khác”. Adrian Payne nhận định “dịch vụ là một hoạt động có một yếu tố vô hình gắn liền với nó và liên quan đến sự tương tác của nhà cung cấp dịch vụ với khách hàng hoặc với tài sản thuộc về khách hàng. Dịch vụ không liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu đầu ra” Theo Hiệp hội thi Hoa Ky (1960), “dich vu là là các hoạt động, lợi ích hoặc sự thỏa mãn được cung cấp để bán hoặc được cung cấp liên quan đến việc bán hàng hóa”.
Từ những quan điểm về khái niệm dịch vụ trên đây, ta có thể rút ra khái niệm về dịch vụ: Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tổn tại dưới dang vật chất do một bên cung cắp cho bên khác nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Về cơ bản kết quả hoạt động dịch vụ là vô hình và thường không dẫn đến quyền sở hữu bắt kỳ yếu tố sản xuất nào. Quá trình sản xuất và tiêu thụ địch vụ xảy ra đồng thời. Đặc điểm của dịch vụ Tính vô hình Đầu tiên, khi nghĩ về các đặc điểm của dịch vụ, tính vô hình có thể xuất hiện trong đầu bạn.
Tính vô hình của dịch vụ có nghĩa là các dịch vụ không thể được nhìn thấy, ém, cảm nhận, nghe hoặc ngửi trước khi chúng được mua. Bạn không thê thử chúng. Chẳng hạn, hành khách của hãng hàng không. không có gì ngoài một vé và một lời hứa rằng họ sẽ đến vào một thời điểm.
nhất định tại một điểm đến nhất định. Nhưng không có gì có thể chạm vao. Không thể tách rời Đặc điểm của dịch vụ bao gồm không thể tách rời, có nghĩa là dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. Điều này cũng đòi hỏi rằng các địch vụ không thể tách rời khỏi các nhà cung cấp của họ.
Trái với các dịch vụ, hàng hóa vật chất được sản xuất, sau đó được lưu trữ, sau đó được bán và thậm chí sau đó được tiêu thụ. Dịch vụ được bán đầu tiên, sau đó được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. Một sản phẩm có thể, sau kị án xuất, được lấy đi từ nhà sản xuất. Tuy nhiên, một dịch vụ được sản xuất tại hoặc gần điểm mua hàng.
Vi du, khi đến nhà hàng, bạn đặt bữa ăn, chờ đợi và giao bữa ăn, dich vu được cung cấp bởi lễ tân, người phục vụ. Tắt cả các bộ phận này, bao gồm các nhà cung cấp, là một phần của dịch vụ và do đó không thể tách rời. tiếp thị dich vụ, một nhà cung cắp dịch vụ là sản phẩm. Tính không thể cắt giữ Dịch vụ không thể được lưu trữ để bán hoặc sử dụng sau này.
Nói cách khác, dịch vụ không thể được kiểm kê. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ, vì nó có thể có tác động lớn đến kết quả tài chính. Ví dụ: Các bác sĩ hoặc nha sĩ thường tính phí bệnh nhân cho các cuộc hẹn lỡ vì giá trị dịch vụ đã bị mắt. Giá trị chỉ tồn tại ở thời điểm cụ thể đó và biến mắt khi bệnh nhân không đến.
Khi nhu cầu ôn định, tính dễ hỏng của dịch vụ không phải là vấn đề. Tuy trong trường hợp nhu cầu biến động, các công ty dịch vụ có thể gặp vấn đề khó khăn. Vì lý do này, các công ty vận tải sở hữu nhiều thiết bị hơn so với nhu cầu trong cả ngày: nhu cầu trong giờ cao điểm cần được phục vụ vào thời gian cụ thể đó, không thể phục vụ sau hoặc sớm hơn. Nếu như các sản phẩm, hàng hóa hữu hình có thể lưu giữ, bảo quản được.
10 thì sản phẩm dịch vụ lại không thể cất giữ được trong kho. Nó chính là một phần đệm điều chỉnh về sự thay đổi nhu cầu về thị trường. Khi cung cầu thị trường có sự chênh lệch thì để làm cân đối về cung cầu bạn có thê áp dụng các biện pháp nhau. Đối với phía cầu Đánh giá phân biệt.
Tổ chức những dịch vụ bổ sung vào các khoảng thời gian cao Xây dựng hệ thống đặt chỗ trước. Đối với phía cung, Thuê thêm các nhân viên làm việc theo hình thức bán thời gian. Trang bị thêm các loại máy móc, trang thiết bị hiện đại.