Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN VE LE HỘI LANG KEO 1. Một số khái niệm liên quan - LỄ hội: Định nghĩa và giải nghĩa Lễ hội, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [56; tr.674]: "Lễ hội là hệ thong các hành vi, động tác nhằm biểu hiện long tôn kính của con người đối với thân linh, phản ánh những ước mơ chính dang cua con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu câu cuộc sống, từ sự tôn tại và phát triển của cộng đông, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời này quy fụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh”. Lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo.
Lý giải thêm về lễ hội, môi quan hệ giữa tôn giáo và lễ hội: Do nhận thức, người xưa rất tin vào trời đất, sông núi, vì thế ở các làng, xã thường có miéu thờ thiên thân, thổ thân, thủy thân, sơn thân. Lễ hội cổ truyền đã phản ánh hiện tượng đó. Tôn giáo có ảnh hưởng đáng kể đối với lễ hội. Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thể, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo dé than linh hóa những gì trần tục.
" Theo Từ điển Tiếng Việt [74; tr.561] thì: "/2" là những nghỉ thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự việc, sự kiện có y nghĩa nào đó con "hội" [74: tr.459] là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt. Lễ ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các nghi thức lễ liên quan đến cầu mùa, cầu nhân khang vật thịnh. Có thể nói lễ là một phần đạo — tâm linh của cộng đồng, nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và sự đảm bảo nề nếp, trật tự cho hội được hoàn thiện hơn. Lễ và hội là quan hệ 12 giữa phần đạo và phần đời.
Lễ và hội đều là cuộc sống thực của con người, được phản ánh thông qua tâm linh cộng đồng. Như vậy, nếu Lễ là phần Đạo, phần tâm linh thì phần hội là phần Đời, là khát vọng của mọi thành viên trong cộng đồng nhằm vươn tới những điều tốt dep trong cuộc sống. Đến với hội còn là dịp để cộng cảm, cộng mệnh, dé mọi người trở nên bình đăng và gần gũi nhau hơn. Đặc biệt là dịp để mỗi người nhận thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn sau những mưu sinh, vất vả của cuộc sống hàng ngày.
"Lễ" và "hội" không phải là hai khái niệm tách rời, mà trong thực tế cuộc sống, đó là một hiện tượng văn hóa xã hội thống nhất, không tách rời. Trong đó cái "thiêng" là hạt nhân của lễ hội, là sản pham của ý thức xã hội, sản phẩm của chính con người qua cả một quá trình lâu dai tạo nên. Cái thiêng dẫu là vô hình, trừu tượng nhưng vẫn hiện hữu qua những hệ thống biểu tượng, thực hành các nghỉ lễ thông qua không gian và thời gian cụ thé của lễ hội. Qua đó, con người vẫn cảm nhận và ý thức được sự trừu tượng ay.
Thực chất, lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và diễn trò, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng cư dân. Tuy nhiên, ban thân cuộc sống không thé thành lễ hội được nếu như chính nó không thăng hoa, liên kết và quy tụ tạo nên thế giới tâm linh, tư tưởng của các biéu tượng, vượt lên những điều trần tục. Đó là cuộc sống thoát ly thực tại tạm thời, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên dep dé va hoan hao. - Tin ngưỡng Tín ngưỡng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [57; tr.435] là niém tin tuyệt đối, không chứng minh (không dựa trên các tài liệu khoa học và thực tiễn) vào sự tôn tại thực tế của những bản chất siêu nhiên ( than thánh), tin ngưỡng là đặc điểm chủ yếu của ý thức tôn giáo, giữ vị trí trung tâm trong ý thức đó.
Cơ sở khách quan của tín ngưỡng là những lực lượng xã hội và tu 13 nhiên thống trị con người. Trong ý thức tôn giáo, những lực lượng đó mang hình thức siêu nhiên và trở thành đối tượng của tín ngưỡng. Vì vậy, tín ngưỡng ( niềm tin tôn giáo) độc lập với tri thức khoa học. Còn theo Từ điền tiếng Việt [74; tr.1009] thì Tin ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào do.
Như vậy, có thể hiểu tín ngưỡng là một hình thức biểu hiện của văn hóa, ở đây là niềm tin vào sự linh thiêng, sự ngưỡng mộ của con người đối với yếu tố thiêng. Niềm tin vào bề trên linh thiêng tạo nên sức mạnh tỉnh thần và nguôn động lực và niềm tin vào cuộc sống của con người. - Tự pháp Tứ pháp theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [57; tr.742] là "bốn vị Phật nữ tính cua sơn môn Dâu: Pháp Van, Pháp Vii, Pháp Lôi, Pháp Điện. Pháp Vân được thờ ở chùa Diên Ứng tức chùa Dâu.
Pháp Vũ được thờ ở chùa Thành Đạo tức chùa Đậu. Pháp Lôi được thờ ở chùa Phi Tướng tức chùa Tướng. Pháp Điện được thờ ở chùa Trí Quả tức chùa Dàn. Các chùa này déu tập trung ở khu vực Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Tứ pháp là bốn hiện tượng tự nhiên: mây, mưa, sam, chop trong tin ngưỡng phon thuc duoc Phật hóa. Các triéu đại phong kiến thường rước tượng Tứ pháp tam Phật cau mưa. Truyện Man Nương trong Lĩnh Nam chích quai ghi lại sự hình thành sơn môn Dâu vào cuối thé kỷ II". Như vậy, Tứ pháp là một hiện tượng hỗn dung tôn giáo rất độc đáo và pho biến ở vùng châu thổ Bắc bộ, đặc biệt là ở vùng Bắc Ninh và giáp ranh là vùng Gia Lâm mà luận văn này trực tiếp khảo sát, nghiên cứu.
Lý thuyết tiếp cận Di sản văn hóa nói chung, lễ hội làng Keo ở Gia Lâm nói riêng là những giá trị tỉnh thần, tư tưởng được cộng đồng làng xã tạo tác, bảo tồn và phát triển từ đời này qua đời khác gắn với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong nước và quôc tê đã đưa ra nhiêu quan diém, mô hình bao tôn di sản văn hóa 14 nói chung khác nhau, nhằm hướng tới giữ gìn những giá trị tỉnh hoa của văn hóa cộng đồng. Tuy nhiên, không có mô hình hay lý thuyết nào được coi là toàn diện dé áp dung, mà tùy bối cảnh, tính chat dé có những vận dụng phù hợp. Trong quá trình nghiên cứu, Gregory J.Ashworth đã tổng kết 03 mô hình bảo tồn di sản: bảo tồn nguyên vẹn; bảo tồn trên cơ sở kế thừa; bảo tồn để phát triển, có thể áp dụng với bảo tồn những giá trị đặc trưng trong lễ hội làng Keo ở Gia Lâm như sau: Thứ nhất là quan điểm bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn nguyên gốc) được các nhà bảo tàng học ủng hộ và thịnh hành từ những năm 1850, góp phan quan trọng trong công tác bảo tồn nguyên trạng các di tích, các bộ sưu tập hiện vật trưng bày trong các bảo tàng.
Ở lễ hội làng Keo ở huyện Gia Lâm thì nhất định cần bảo tồn một số giá trị của nó ở dạng nguyên vẹn, trong đó có van dé đặc trưng về thần chủ và các lớp văn hóa bản địa — những yếu tố tạo tác đặc sắc văn hóa lễ hội truyền thống này. Thứ hai là quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa: tác giả Gregory J.Ashworth cho rằng, không chỉ những đồ tạo tác hay những tòa nhà mà cả các bộ sưu tập và các di sản khác cũng được bảo tồn dựa trên cơ sở kế thừa. Tiêu chí lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào chức năng bên trong của di sản mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài của di sản. Bảo tồn trên cơ sở kế thừa không chỉ quan tâm đến hình thức mà còn quan tâm đến cả chức năng của di sản.
Trong trường hợp bảo ton lễ hội truyền thống làng Keo ở huyện Gia Lâm cũng cần dựa trên quan điểm này. Chúng ta sẽ lưu giữ những tinh hoa và bổ sung những yếu tổ mới dé lễ hội ở đây luôn được tươi mới, vừa truyền thống nhưng bao chứa được hơi thở của thời đại mới. Khi nhìn nhận về hai quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa, mỗi quan điểm đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn khó xác định các yêu tổ nguyên gốc, hay yếu tô phái sinh và giữ nguyên gôc là những yêu tô nào.
Quan diém bảo tôn trên cơ sở kê 15 thừa lại gặp khó khăn trong xác định yếu tố nào thực sự cần phải kế thừa, yếu tố nào không phù hợp trong đời sống và cần được loại bỏ; đồng thời đưa ra khuyến cáo sự loại bỏ ấy có nguy cơ đánh mat những giá trị di sản văn hóa mà chúng ta chưa thực sự hiểu biết một cách sâu sắc, thấu đáo về bản chất của di san [33; tr. Thứ ba là quan điểm bao tồn phát triển. Bao tồn dé phát triển không đơn thuần là việc tìm những biện pháp dé bảo tồn nguyên ven di sản, mà có thé xem xét quản lý di san theo một hướng khác. Di sản văn hóa luôn tôn tại cùng với sự vận hành của xã hội và di sản văn hóa là một thực thể có sự tác động qua lại trong môi trường xã hội.
Do vậy, cần có những biện pháp bảo tồn các gia tri của một di sản văn hóa cu thể, ở đây là di sản lễ hội làng Keo ở huyện Gia Lâm, một cách hợp lý nham bảo vệ di sản hiệu quả, khai thác và phát huy di sản đúng mức luôn là vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế — xã hội của địa phương này. Mối quan hệ hữu cơ giữa di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội ở xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm ngày nay, theo quan điểm nay, là mỗi quan hệ tương hỗ có tác động qua lại lẫn nhau [33; tr.