Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Những đặc trưng về văn hóa sản xuất của cư dân xã Vĩnh Hào 20 z Chương 3: Những công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của cư dân xã Vĩnh Hào Chương 4: Những đặc trưng về văn hóa tinh thần của cư dân xã Vĩnh Hào Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế. Nhân dịp hoàn thành, người viết luận văn xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư về sự giúp đỡ tận tình quý báu đó. 21 z CHƢƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái niệm về văn hóa và các khái niệm có liên quan 1.
Các khái niệm về văn hóa Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ bình minh của xã hội khác nhau về văn hóa. Ở phương Đông, từ văn hóa đã xuất hiện trong quẻ Bi: xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ. Văn hóa ở Trung Quốc được quan niệm như một phương thức giáo hóa con người và nó đối lập với vũ lực. Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultur, người Nga có từ Kultura.
Do vậy, từ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt và thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Ở Việt Nam, văn hóa được dùng cùng với các khái niệm như văn hiến, văn vậy. Văn hiến được dùng để chỉ truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Văn vật được hiểu là truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và nhiều di tích lịch sử.
Sinh thời Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cảu cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. TSKH Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Tóm lại văn hóa có thể tạm quy về hai loại: Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, suy nghĩ, lối ứng xử.
Văn hóa theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn… và tùy theo từng trường hợp mà có những cách định nghĩa khác nhau. Văn hóa cùng tồn tại với sự phát triển của con người, xã hội loài người và nó biểu hiện khác nhau ở từng khu vực địa lý và từng vùng dân cư. Khái niệm văn hóa dân gian 22 z Thuật ngữ quốc tế ”folklore” - Văn hóa dân gian, được W J.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ… của người thời trước”. Từ đó đến nay, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái folklore Anh – Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái folklore Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp – Italia) và trường phái folklore Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “folklore” đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là “văn học dân gian”, “văn nghệ dân gian” và nay là “văn hóa dân gian”. Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm folklore từ các trường phái khác nhau trên thế giới. Hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau: Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ… Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian…); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn…) Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu…); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất) Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục…), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân. Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp.
23 z Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động. Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng. Văn hóa, trong đó có văn hóa dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định. Tuy nhiên, sau khi hình thành và định hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách là ”nền tảng tinh thần của xã hội”, là “động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội”.
Khái niệm văn hóa làng và di sản văn hóa Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp, tự túc, và là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy. Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và nguyên lý cùng chỗ. Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian. Về khái niệm xã: Xã là đơn vị hành chính cơ sở từ thời Lê Sơ đến thời Nguyễn dưới cấp tổng.
Hiện nay người ta vẫn gọi chung là làng xã [50, tr. Có những xã chỉ có một làng, có xã có nhiều làng. Trong luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm không gian văn hóa xã để chỉ những đặc trưng văn hóa của 5 làng của xã Vĩnh Hào như một sự khoanh vùng cụ thể để nghiên cứu. Di sản vật thể bao gồm: di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Đại cương về không gian văn hóa Trong sự phát triển của bất kỳ một dân tộc nào, một nền văn hóa nào đều có sự tác động của điều kiện tự nhiên và xã hội dù ít hay nhiều. Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên và lịch sử, xã hội của mỗi vùng không giống nhau. Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên cũng sẽ dẫn đến sự phát triển về văn hóa có những điểm không giống nhau. 24 z Tìm hiểu nét tương đồng và sự khác biệt về văn hóa cũng như sự biến đổi của một hiện tượng văn hóa trong một không gian trên cơ sở ấy mà làm rõ cái chung và nét riêng của từng không gian văn hóa là khá phức tạp.
Trong tâm thức dân gian Việt Nam đã có sự phân biệt giữa cái chung và cái riêng thể hiện qua việc khẳng định những sản vật của một làng, nghề nghiệp của một làng, nét tiêu biểu của một vùng như: Dưa La, hung Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét. Hay người Vụ Bản, Nam Định có câu: Bánh Gôi, xôi Hồ… Trong lịch sử cũng tồn tại của khái niệm Xứ. Khái niệm Xứ được dùng rất linh hoạt trong dân gian, có thể là một tỉnh như “xứ Lạng, xứ Nghệ, xứ Thanh…, cũng có thể là một vùng theo đạo Thiên chúa như giáo xứ, xứ Đạo…, cũng có thể là một vùng nào đó xung quanh kinh thành Thăng Long trước đây… Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu chưa có một thuyết nào về không gian văn hóa nhưng họ lại thừa nhân có sự tồn tại của vùng văn hóa. Nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, L.Taylo, những người đi tiên phong của trường phái tiến hóa hiện đại đã đề câp đến vấn đề tương đồng về văn hóa.
Trong cuốn “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam” Giáo sư Ngô Đức Thịnh đã thống kê được đến nay có ba khuynh hướng nghiên cứu và lý thuyết chính: lý thuyết “Khuếch tán văn hóa ở Tây Âu, lý thuyết “vùng văn hóa” ở Mỹ và lý thuyết loại hình kinh tế - văn hóa và khu vực văn hóa – lịch sử của các nhà khoa học Liên Xô cũ. Khái niệm này đặc trưng cho bản sắc riêng của từng vùng dưới sự thống nhất do cùng cội nguồn tạo ra bản sắc chung. Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh văn hoá dân tộc. Vùng văn hoá do đó chỉ sự khác nhau của đặc trưng văn hoá tộc người theo không gian địa lí trên một lãnh thổ.
Những nhóm tộc người khác nhau ở những địa điểm khác nhau tạo nên sự phân hoá vùng văn hoá. Từ xa xưa, ông cha ta đã ý thức về việc phân biệt văn hoá vùng miền và ngày càng được chú trọng một cách có ý thức trong giới nghiên cứu ngày nay. Tuy nhiên hiện còn nhiều ý kiến không đồng nhất theo từng khuynh hướng, từng tác giả.